Tín ngưỡng

Đạt Lai Lạt Ma – Nhiều tín ngưỡng, một sự thật

Cập nhật lúc 05-06-2010 17:21:58 (GMT+1)

 

Khi còn là một bé trai ở Tây Tạng, tôi cảm thấy rằng Phật giáo của tôi phải là tôn giáo hạng nhất – và những tín ngưỡng khác kém hơn. Bây giờ tôi thấy tôi đã ngây thơ như thế nào, và sự cực đoan của những tôn giáo thiếu khoan dung ngày nay nguy hiểm như thế nào.


Mặc dầu sự thiếu khoan dung có thể cũ như chính tôn giáo, chúng ta vẫn còn có thể nhìn thấy những dấu chỉ mạnh mẽ về sự độc hại của nó. Tại châu Âu, có cuộc thảo luận sôi nổi về các di dân đeo mạng che mặt hay muốn xây dựng tháp nguyện đường và những đợt bạo lực chống lại di dân Hồi giáo. Phái vô thần cấp tiến lên án chung tất cả những ai giữ tín ngưỡng tôn giáo. Tại Trung Đông, lửa chiến tranh được quạt bởi hận thù của những người thuộc về tôn giáo khác nhau.

Những căng thẳng như vậy có vẻ gia tăng khi thế giới trở thành nối kết nhiều hơn và văn hóa, người dân và tôn giáo cuốn quyện với nhau hơn bao giờ hết. Áp lực này không chỉ thử thách lòng khoan dung của chúng ta – nó đòi hỏi chúng ta khuyến khích chung sống hòa bình và có sự hiểu biết vượt qua biên giới [niềm tin tôn giáo của mình].

Đương nhiên, mỗi tôn giáo có một ý thức riêng như là phần cốt lõi đặc trưng của mình. Dầu vậy, tôi tin rằng có khả năng thực sự cho một sự hiểu biết lẫn nhau. Khi bảo tồn niềm tin về truyền thống của mình, người ta vẫn có thể tôn trọng, cảm phục và biết ơn những truyền thống khác.

Một dịp sớm mở mắt cho tôi là cuộc gặp gỡ Thomas Merton tại Ấn Độ, một thầy dòng Công giáo khổ tu, gọi là Dòng Trappist, trước khi ông bất ngờ qua đời vào năm 1968. Merton nói với tôi rằng tuy ông hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa giáo, nhưng vẫn có thể học hỏi sâu xa từ các tôn giáo khác như Phật giáo. Điều này cũng đúng với tôi như là một Phật tử nồng nhiệt học hỏi từ các tôn giáo lớn khác trên thế giới.

Điểm chính trong cuộc thảo luận của tôi với Merton là trung tâm lòng thương của cả Thiên Chúa giáo và Phật giáo là thông điệp như thế nào. Đọc Tân Ước, tôi tự cảm thấy hứng khởi bởi những việc làm thương người của Giê Su. Phép lạ của ngài về bánh và cá, chữa bệnh và dạy bảo của ngài tất cả đều thúc đẩy bởi ý muốn làm dịu đi sự khổ đau.

Tôi là người tin tưởng vững chắc vào khả năng của sự giao tiếp giữa con người để bắc cầu cho những khác biệt, cho nên từ lâu tôi đã kêu gọi đối thoại với những người khác tôn giáo. Điểm chính về lòng thương mà Merton và tôi theo đuổi trong hai tôn giáo của chúng tôi đã gây ấn tượng trong tôi như là một sợi giây mạnh mẽ hợp nhất tất cả các tín ngưỡng lớn. Và trong những ngày này, chúng ta cần nhấn mạnh cái gì hợp nhất chúng ta.

Hãy nói về đạo Do Thái (Judaism). Lần đầu tiên tôi viếng một đền thờ ở Cochin, Ấn Độ, năm 1965, và tôi đã gặp nhiều giáo sĩ (rabbi) trong nhiều năm. Tôi còn nhớ cảnh sống động vị giáo sĩ ở Hòa Lan đã nói với tôi về Holocaust, mãnh liệt đến nỗi khiến cả hai chúng tôi cùng chảy nước mắt. Và tôi học được ở kinh Talmud và Cựu Ước đã nhắc lại về lòng thương như thế nào, như là phần trong sách Lê Vi đã nhắc nhở, “Yêu láng giềng như chính mình”.

Trong rất nhiều lần gặp gỡ các học giả Ấn giáo, tôi cũng đã được thấy cái tâm điểm của lòng thương vị tha trong Ấn giáo (Hinduism) – như đã được diễn tả trong thánh thi Bhagavad Gita, ca ngợi những ai “vui sướng vì phúc lợi của mọi sinh vật”. Tôi cảm động về cách mà giá trị này đã được diễn tả qua cuộc đời của nhân vật vĩ đại như Mahatma Gandhi, hoặc được biết tới ít hơn là Baba Amte, người đã lập một trại cùi không xa nơi định cư của người Tây Tạng thuộc tiểu bang Maharashtra ở Ấn Độ. Tại đây, ông đã nuôi dưỡng những người cùi mà nếu không có ông, họ bị lánh xa. Khi được nhận giải Nobel Hòa bình, tôi đã tặng cho trại của ông.

Lòng thương cũng quan trọng tương tự trong Hồi giáo – và việc nhận ra thông điệp này trở nên rất quan trọng kể từ sau sự kiện 11 tháng 9, nhất là để trả lời cho những ai mô tả Hồi giáo như là một tín ngưỡng hiếu chiến. Vào kỷ niệm một năm ngày 11 tháng 9, tôi đã nói tại Nhà thờ Quốc gia (National Cathedral) ở Washington, nài xin chúng ta đừng mù quáng theo dõi một vài tin dẫn trên truyền thông và để cho những hành vi bạo động của một vài cá nhân tượng trưng cho cả một tôn giáo.

Xin để tôi nói về Hồi giáo như tôi biết. Tây Tạng đã có một cộng đồng Hồi giáo vào khoảng 400 năm, mặc dầu những giao tiếp phong phú nhất của tôi với Hồi giáo đã diễn ra tại Ấn Độ, nơi tín hữu Hồi giáo đông thứ nhì trên thế giới. Một Immam tại Ladakh có lần nói với tôi rằng một tín hữu Hồi giáo thực sự phải yêu thương và kính trọng tất cả mọi loài Allah đã tạo ra. Và theo sự hiểu biết của tôi, Hồi giáo cung kính tình thương như một nguyên tắc cốt lõi về tinh thần, phản ảnh ngay từ danh Chúa, câu “Thương người và Khoan dung” xuất hiện ở phần mở đầu tại hầu hết mỗi chương của kinh Koran.

Tìm một địa bàn chung cho các tín ngưỡng có thể giúp chúng ta nối kết những chia rẽ không cần thiết vào thời gian khi hành vi hợp nhất quan yếu hơn bao giờ hết. Là một chúng sinh, ta phải đón nhận tính đồng nhất của loài người khi chúng ta phải đương đầu với những vấn đề toàn cầu như bệnh dịch, khủng hoảng kinh tế hay tai nạn sinh thái. Ở tầm mức ấy, đáp ứng của chúng ta phải đồng nhất.

Sự hòa hợp trong số các tín ngưỡng lớn đã trở thành phần chính cho sự chung sống hòa bình trong thế giới chúng ta. Từ phối cảnh ấy, sự hiểu biết lẫn nhau trong những truyền thống này không phải chỉ là chuyện của tín hữu các tôn giáo – nó quan hệ cho phúc lợi của toàn thể nhân loại.

Tenzin Gyatso, là húy danh của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, vị lãnh đạo tối cao của dân tộc Tây Tạng. Ngài cũng là một tác giả, gần đây nhất là cuốn Toward a True Kinship of Faiths: How the World’s Religions Can Come Together.

Nguồn: “Many Faiths, One Truth” của Tenzin Gayatso, The New York Times / talawas.org

Ảnh trong bài: Nếu không ghi thêm, tất cả các ảnh trong bài này chỉ mang tính minh họa và có bản quyền như nguồn tin gốc đã đưa.

Tin liên quan

 

Booking.com
Tiêu điểm
Quảng cáo