Tin tức

Về mức lương trung bình ở Ba Lan

Cập nhật lúc 29-06-2017 17:04:41 (GMT+1)
Ảnh: Internet

 

“Tôi thấy bực mình vì họ công bố lăng nhăng!” Sau đây là tại sao khi đọc hay nghe về mức lương trung bình ở Ba Lan thì mọi người đều khó chịu.


Ai ở Ba Lan có mức lương ấy?!” – đó là các câu mọi người hay nói khi nghe hay đọc các số liệu do Tổng cục Thống kê (GUS) công bố về mức lương trung bình ở Ba Lan. Các báo cáo hàng tháng do GUS làm có thể làm mọi người ngạc nhiên vì mức lương 4 nghìn zł brutto với phần đông người Ba Lan là mức không thể đạt được. Có vài lý do vì sao họ lại có con số như vậy, và việc mọi người bực mình là rất có lý.

GUS thông báo gần đây là mức lương trung bình trước thuế (brutto) của khối các xí nghiệp vào tháng 5-2017 là 4390,99 zł. Con số khá cao nhưng chưa phải là kỷ lục. Vào tháng 12-2016 con số họ đưa là 4635 zł, con số cao nhất từ trước đến nay.

Tuy nhiên khái niệm về mức lương trung bình vẫn gây ra ngạc nhiên. “Mấy năm rồi tôi chả thấy ví dầy lên chút nào cả. Hay là đi vay thì có thể thế. GUS lấy ra con số ở trên trời nào vậy” – bà Magdalena bình luận về bài viết của chúng tôi về lương. “Người Ba Lan kiếm tiền càng ngày càng nhiều hơn và chi phí cũng càng cao hơn. Đó là thực tế” – ông Ryszard cho là thế. “Tôi cảm thấy bực mình vì các thông tin ấy! Mỗi năm GUS lại cho ra mức lương trung bình cao hơn. Thế thì tính trung bình thì tôi và con chó của tôi mỗi đứa có ba chân” – ông Piotr bực bội nói. Vậy thì mức trung bình ấy là thế nào nhỉ?

GUS không thống kê cho toàn bộ thị trường nhân lực

Ta hãy giải thích vài điểm. Thứ nhất là là số liệu hàng tháng về lương trung bình trong khối các doanh nghiệp của GUS không bao gồm toàn bộ thị trường lao động. Nó chỉ liên quan đến các hãng thuê hơn 9 nhân viên. Vậy đó là các hãng trung bình và lớn, mà theo số liệu thống kê chúng chỉ chiếm vào năm 2016 có khoảng 4,3%.

Còn các hãng khác thì sao? Đó là các hãng nhỏ và siêu nhỏ thuê ít hơn 9 người. Theo các con số của Ngân hàng Quốc gia Ba Lan thì số các hãng này đến cuối năm 2016 là 4,06 triệu hãng, như vậy nó chiếm tới 95,7% số tất cả các hãng. Mà trong con số thống kê thì GUS không tính đến chúng. Đấy là vấn đề thứ nhất.

Thứ hai là ta hãy xem ai là nhân viên được đem ra thống kê. Có bao nhiêu người trong số ấy làm việc ở các hãng thuê nhiều hơn 9 nhân viên mà GUS thống kê?

Vào quý I năm 2017 con số nhân viên trung bình làm việc ở các hãng là 5,968 triệu người, chiếm 59,2% số người lao động trong tất cả các cơ sở của nền kinh tế quốc dân – theo thông báo của GUS.

Con số trên là một con số mấu chốt của vấn đề vì con số về lương trung bình ở Ba Lan thật ra chỉ liên quan tới khoảng 60% nhân viên làm việc ở trong 4,3% tất cả các hãng trong Ba Lan. Ấy là chưa tính việc các cán bộ cấp cao, những người phụ trách các bộ phận hay các sếp còn nâng con số lên so với thực tế nữa. Đây là vấn đề thứ hai.

Điểm thứ ba là ngoài con số liên quan đến “lương trung bình của cả nước”, GUS mỗi quý còn cho mức lương trung bình trong toàn bộ nền kinh tế, tính cả các hãng dưới 9 người (nó không được tính hàng tháng). Bạn cũng có thể đoán được là kết quả cũng rất khác xa thực tế.

Ví dụ, tháng 2 năm nay ta được biết lương trung bình trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân của năm 2016 là 4047,21 zł (tức kém gần 600 zł so với tháng 12 năm 2016). Ta không biết gì về phân bố của các mức lương cả. GUS cho tất cả vào một rọ. Vậy số liệu đó là không tin cậy và khó diễn giải. Đây là vấn đề thứ ba.

Tất nhiên là có một phương pháp để cho con số thực tế gần với thu nhập của chúng ta hơn. Và tất nhiên là con số ta nhận được sẽ buồn hơn đáng kể so với con số ta được nghe hàng ngày.

Mức lương ở Ba Lan. Thực sự thì nó ra sao?

Nếu nói về mức lương có đông người nhận nhất, tức mức lương hay được trả nhất trong nước thì để tìm nó, ta phải lục lại các số liệu của GUS về phân bố lương ở Ba Lan (xem: Cấu trúc về lương theo nghề, tháng 10-2014). Nhưng tìm ra ngay cả con số này ta cũng cảm thấy khá thất vọng vì con số mức lương chiếm đa số này cũng có hai vấn đề quan trọng cần bàn:

1. Mức đa số (dominanta) này được thống kê hai năm một lần, số liệu gần đây nhất ta có là con số của tháng 10 năm 2014. Không có ai biết vì sao (ngay GUS cũng không biết!) là tại sao ta không thống kê chúng thường xuyên hơn (chắc nhà nước Ba Lan đủ tiền để làm việc này). Hơn nữa, khi chúng tôi hỏi họ là đến khi nào sẽ có con số thống kê của tháng 10 năm 2016, tức cho chu trình tiếp theo thì chúng tôi nghe được câu trả lời là họ không có kế hoạch thống kê này cho năm nay, con số tới chắc phải vào đầu năm 2018 mới có. Như vậy số liệu thống kê về mức lương chiếm đa số cũng đã lạc hậy, mà còn bị công bố chậm sau một năm (rõ chán!).

2. Thêm vào nữa là mức lương đa số này cũng thống kê cho chính cho các hãng cỡ “trung bình của cả nước”, tức các hãng có nhiều hơn 9 nhân viên. Mà thế có nghĩa là ta chỉ thống kê lương của khoảng 60% số người lao động trong cả nước.

Vậy thôi, ta chả còn lựa chọn nào khác cả. Nào ta hãy xem các số liệu “mới nhất” của GUS trong tháng 10-2014. Ta thấy gì ở đây? Chúng ta hãy rút ra các kết luận quan trọng nhất như sau:

• Mức lương hàng tháng hay có nhất ở Ba Lan trước thuế là 2469,47 zł.

• Có 29,6% nhân viên nhận lương thấp hơn mức nêu ở trên.

• Một nửa số nhân viên trong nền kinh tế có mức lương trung bình hàng tháng brutto dưới 3291,56 zł.

• 10% số người lương thấp nhất nhận dưới 1718,00 zł, còn 10% số có lương cao nhất nhận ít nhất là 6917,23 zł.

• Gần 66% nhân viên có lương không hơn mức trung bình của cả nước, tức không hơn 4107,22 zł.

• 19% số người lao động có mức lương brutto dưới 2053,86 (tức bằng một nửa mức lương trung bình của cả nền kinh tế quốc dân vào tháng 10 năm 2014).

Tóm lại, thông thường lương hay nhận nhất của nhóm 60% nhân viên làm việc trong các hãng lớn nhất của Ba Lan là 1,8 nghìn zł sau thuế (netto, thực nhận vào tay).

Con số này chả cần bình luận gì thêm. Do đó không có gì ngạc nhiên là mức lương trung bình 4,4 nghìn zł brutto công bố có thể gây ra sự ngạc nhiên trong xã hội. Nhất là khi một nửa số người làm ở các hãng trung bình và lớn không kiếm được nhiều hơn 3,3 nghìn zł brutto (tức khoảng 2,4 nghìn zł thực nhận vào tay). Mà vẫn còn chưa hết các điều đáng ngạc nhiên đâu.

Áp lực cho tăng lương trong cả nước. Lại một điều hiểu nhầm nữa

Một điều không đúng sự thật hay được nhắc lại nữa là hiện có áp lực lớn cho việc lương tăng. Vâng, đúng là có những ngành trong nền kinh tế có mức lương tăng với mức hai con số, do sự thiếu hụt của các chuyên gia ở đó nhiều nên thiếu người làm việc. Ta nói ở đây chủ yếu là về ngành công nghệ thông tin, các phục vụ cho kinh doanh, các ngành xuất khẩu đang tăng nhanh và các vị trí cho chuyên viên cao cấp ở các thành phố lớn cho những hãng có cơ sở trên toàn cầu. Phần còn lại của thị trường tình hình không có màu hồng như vậy.

Ta hãy lấy ví dụ về các mạng siêu thị lớn. Họ đang thiếu người bán hàng và phải tăng lương gần đây lên vài trăm złoty brutto. Các siêu thị đã nhận được một bài học không nhỏ vì trong vòng nhiều năm, mức lương ở đó hầu như không đổi và các phụ nữ ngồi ở chỗ thu tiền đã là biểu tượng của những người thu nhập kém nhất. Việc này mới thay đổi từ hai ba năm nay. Như vậy sự chậm trễ ở đây là khá lớn.

Còn nhìn chung, áp lực cho chủ tăng lương không cao. Trung bình ở đất nước trên bờ sông Wisła lương chỉ tăng trong vòng các tháng gần đây chỉ tăng có khoảng 4% trong khi mức lạm phát cỡ 2% (ta vẫn nói ở đây về khối các hãng). Vậy mức lương tăng thực tế giữ ở mức khoảng 2%. Đó là con số không đáng kể.

Chỉ cần nhắc lại là trước cuộc khủng hoảng năm 2008, khi con số người thất nghiệp có đăng ký dao động ở mức dưới 10%, thì mức tăng lương khi đó dao động cỡ chục phần trăm. Điều này đưa ta đến kết luận trong mục tiếp sau đây, mà hiện truyền thông của Ba Lan ít nhắc tới.

“Ở Ba Lan hiện chưa có thừa nhân lực”

Đầu năm nay, Thông tấn xã Ba Lan (PAP) đã công bố một cuộc phỏng vấn cực kỳ hay với một cán bộ của Viện Kinh tế Ngân hàng Quốc gia Ba Lan, Tiến sỹ khoa học Joanna Tyrowicz. Nữ chuyên gia về thị trường nhân lực đã nói rất thẳng thắn là nhiều điều truyền thông Ba Lan nói về thị trường nhân lực đều hoặc chỉ là một nửa sự thật, hoặc là hiện tượng bề nổi (typowe bicie piany). – Ở Ba Lan hiện không có thừa nhân lực – chuyên gia lúc ấy làm ở Ngân hàng Quốc gia (bây giờ bà làm ở trung tâm GRAPE thuộc Đại học Tổng hợp Vác-sa-va) đã nói như vậy và bổ sung là:

Quả thực là từ một năm nay mọi người đều nói là nạn thất nghiệp ở Ba Lan đang thấp và chúng ta đang thừa nhân lực, nhưng không có số liệu nào khẳng định điều này.

Ngoài ra, mức thất nghiệp giảm không phải là do ngày càng có nhiều người tìm được việc hơn mà là do càng ngày càng ít người mất việc và ít người gia nhập vào thị trường nhân lực hơn.

Tiến sỹ Tyrowicz cũng thuyết phục là việc đi tìm việc ở Ba Lan là “một trải nghiệm căng thẳng”. – Trung bình người đi tìm việc sẽ tìm được việc sau chừng 10 tháng (trong khi ví dụ ở Hà Lan chỉ mất 4 tháng – bổ sung của biên tập viên). Con số này không hề hạ từ ba năm nay, mặc dù trong thời gian này nạn thất nghiệp vẫn giảm. Chúng ta có một thị trường nhân lực không hoạt động tốt – bà nói.

Quả như vậy, theo các số liệu mới nhất của GUS thì thời gian tìm việc trung bình trong quý IV năm 2016 là 10,7 tháng, thấp hơn cùng kỳ năm ngoái cỡ một tháng (lúc đó là 11,8) và thấp hơn chừng nửa tháng so với quý III của năm 2016 (11,1 tháng).

Thị trường nhân lực của Ba Lan. Cũng có vấn đề với việc tăng lương

Chưa hết. Cũng có các vấn đề với chính việc thừa nhân lực nói ở trên. Các số liệu về Thăm dò thị trường nhân lực năm 2015 do Ngân hàng Quốc gia Ba Lan công bố cho thấy một người lao động Ba Lan bình thường có thể hy vọng được tăng lương 2 năm một lần (trong khi ở nửa sau của những năm 90 thì trung bình có thể được tăng 2 lần mỗi năm). Vào những năm 2006-2008, trong thời gian tốc độ tăng lương cao thì việc tăng cũng còn nhiều hơn (tức là tăng sau từ 1 đến 1,5 năm).

Theo hãng Work Service thì tình hình khá hơn. Theo họ thì trong vòng 12 tháng gần đây có 45% người lao động được tăng lương, trong đó ở 22% trường hợp do phía chủ thuê tự đề xuất.

Kết luận suy ra ở đây là không phải chủ lao động bỗng dưng chi nhiều tiền hơn cho thợ. Ở các hãng nhỏ, theo các chuyên gia nhấn mạnh, thì việc tăng lương có được là do thôi làm ở chỗ cũ và tìm chỗ trả lương cao hơn. Còn dòng nhân lực, việc chuyển ngành ở Ba Lan vẫn còn có vấn đề. Tóm lại, thị trường nhân lực vẫn cứng nhắc, và nó kéo theo hậu quả là tốc độ tăng lương chậm.

Để giải thích ý này cho có hình ảnh hơn, việc chúng ta thích giữ chỗ đang làm hơn và ít thích đổi chỗ làm việc đã gây ra tình trạng là khi đó chính chúng ta đã tự hại mình lúc đàm phán với chủ thuê. Theo một số các nhà phân tích thị trường lao động thì điều này một phần do ngại thay đổi trong cuộc sống (điều khá phổ biến ở mọi người), hoặc đó là lối nghĩ của một số người thuộc thế hệ cũ (chỉ thích làm ở một chỗ trong suốt cuộc đời). Các nguyên nhân cho việc ít thích thay đổi này chắc còn nhiều hơn nữa (chẳng hạn ta chỉ cần nêu lại khoảng thời gian tìm việc mới đã viết ở trên).

Vậy thì nếu lần sau khi đọc về lương ở nước ta thì bạn đừng có nên bực bội nhiều như vậy nữa. Trung bình, thì như một bạn đọc của chúng tôi đã nói ở trên, anh ta và con chó của mình có ba chân. GUS không vượt qua cái này được. Đó chỉ là quy luật của thống kê. Nhưng cơ quan này có thể tìm ra cách sao cho các số liệu về lương sẽ không theo kiểu chọn đã nói ở trên và không được cập nhật đúng lúc. Chúng ta không nên tiết kiệm tiền cho việc này. Kiến thức là vô giá mà lại.

Nguồn: NHV/Onet

 

Ảnh trong bài: Nếu không ghi thêm, tất cả các ảnh trong bài này chỉ mang tính minh họa và có bản quyền như nguồn tin gốc đã đưa.

Tin liên quan

 

Booking.com
Tiêu điểm

Thảo luận

Quảng cáo