Văn nghệ

Nhà thơ ta đi đây

Cập nhật lúc 02-03-2011 12:56:12 (GMT+1)
Đoàn nhà văn VN trước phủ Tổng thống Ba Lan

 

Phương Tây mãi mãi là sự lạ đối với phương Đông, và ngược lại , phương Tây cũng luôn muốn khám phá sự khác biệt của phương Đông để đi tìm một tiếng nói chung trong nhiều thời đại. Trong làng thơ cũng không thoát khỏi cái ý hướng chung đó.


Chúng ta đã có một thời đại Thơ Mới kết hợp Đông – Tây mở ra trăm điều mới lạ cho thơ Việt, và cho tới hôm nay sự hoà nhập của thơ Việt vào thơ ca thế giới hiện đại là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, cái sự lạ giữa hai cực Đông – Tây là không bao giờ hết, bởi nó còn phụ thuộc vào các quan niệm sống, quan niệm thẩm mỹ và quan niệm đạo đức không thể đồng nhất. Bởi vậy mà cuộc lên đường của một đoàn nhà thơ (và nhà văn) Việt Nam sang phương Tây là vô cùng háo hức và lý thú.

Nhận lời mời của Hội Nhà văn Ba Lan, đoàn nhà thơ gồm các nhà thơ Hữu Thỉnh (Trưởng đoàn), Hoàng Trần Cương (Tổng biên tập Thời báo Tài chính – Phó đoàn), Nguyến Trọng Tạo (Uỷ viên Hội đồng Thơ, Trưởng ban biên tập báo Thơ), Nguyễn Thuỵ Kha, cùng 2 nhà văn Phạm Ngọc Tiến và Trần Hữu Tòng đã khăn gói lên đường theo chương trình 15 ngày định sẵn.

1. Nhà thơ và… tiền

Được mời đi Tây, được cử đi Tây, mới nghe đã thấy sướng cái bụng. Nhưng khi nghe Ban đối ngoại Hội nhà văn Việt Nam thông báo mỗi nhà thơ phải chuẩn bị khoảng 1.300 USD để mua vé máy bay và làm thủ tục hộ chiếu, visa; rồi phó đoàn phụ trách tài chính thông báo tiếp rằng, mỗi người phải thủ thêm 1.000 Ơrô (Euro) bỏ túi thì nhà thơ nào cũng lè lưỡi khi tính ra tiền Việt vừa tròn 40 triệu (theo thời điểm). Các nhà thơ vốn dòng dõi “ nhà nghèo”, bởi  ai mà chẳng thuộc câu thơ Nguyễn Bính dặn con “Nhất kiêng là lấy chồng thi sĩ – Nghèo lắm con ơi… bạc lắm con!” – Nguyễn Thuỵ Kha là tay giang hồ có tiếng, chưa đi nước ngoài bao giờ, lại là người nhụt chí đầu tiên. Đến khi nghe tôi khuyên: “Thôi thì cắn răng mà đi vậy. Mấy thằng bạn thơ đi với nhau là dịp hiếm. thiếu thì cứ vay tạm đâu đó, tính sau” . Ba ngày sau Kha mới quyết định việc Tây du. Chuỵện các nhà thơ đi Tây phải tự túc tiền bạc lan ra trong các cuộc rượu khiến nhiều bạn bè động lòng trắc ẩn, rồi động đến tâm can của các nhà doanh nghiệp vốn yêu thích văn chương. Thế là chỉ sau một tuần, với sự hỗ trợ  của các Mạnh Thường Quân, các nhà thơ đã có đủ số tiền mua vé và phòng thân trên con đường vạn lý.

Trong đoàn đưa tiễn chúng tôi ra sân bay Nội Bài có nhà báo Đỗ Quang Hạnh. Khi được Hàng không Quốc gia Việt Nam thông báo chuyến bay chậm lại 5 tiếng đồng hồ, Hạnh thết chúng tôi một chầu bia Heineken “uống cho đã, kẻo sang Tây không đủ tiền mà uống bia đâu”. Rồi Hạnh còn dúi cho 100 đô “một cuộc giải khát gọi là”. Hạnh là bạn rượu, là người đã đi Tây đi Mỹ nhiều nên muốn truyền đạt cái kinh nghiệm tiêu tiền ở xứ người, quả là chí phải. Khi chúng tôi bị Việt Nam Airlines “ bỏ rơi” 7 tiếng đồng hồ tại sân bay Charles de Gaulle Pris, vì lỡ chuyến bay đi Warszawa, thì các nhà thơ bắt đầu đối diện với giá cả đồng tiền chung Châu Âu. Tất cả đều dùng đồng tiền E (ơ-rô). Tính ra tiền Việt Nam cả đoàn đều tái mặt: 1 cốc bia 100.000 VNĐ, 1 chai nhỏ Cocacola 90.000 VNĐ, 1 bánh mỳ cặp xúc xích 110.000 VNĐ, 1 tô mì sợi xa lát 120.000 VNĐ… Giá đắt gấp mười lần ở Nhà.

Nhưng đã đi Tây thì không thể nhịn ăn. Và các nhà thơ thì không thể nhịn bia nhịn rượu. Nhà thơ Hoàng Trần Cương tuyên bố “Cứ coi tiền E như tiền nghìn ở nhà”, và thẳng tay thu trước mỗi người 300 E. Thế là bữa trưa, bữa tối vẫn cứ bia rượu tù tì.

 

2. Nhà thơ ta và Nhà thơ Tây

Ba Lan là một cường quốc Nobel văn học. Trong khi Châu Á mới dành được 3 giải Nobel văn học thì đất nước 40 triệu dân Ba Lan đã có 4 tác giả đoạt giải thưởng to lớn này . Đó là H.Sienkiewicz (1905), W.Reymont (1925),  C.Milosz  (1980), và W.Szymborska (1996). Đoàn nhà văn Việt Nam do nhà Hữu Thỉnh dẫn đầu đến thăm và làm việc tại Hội Nhà văn Ba Lan, trụ sở đóng tại Nhà Văn Học ngay cạnh khu phố cổ kính có quảng trường rộng mênh mông, với một niềm vui và niềm ngưỡng mộ khó tả. Chủ tịch Hội Nhà văn Ba Lan, ông Marek Wawrzkiewcz cao lớn, có gương mặt sắc sảo và phúc hậu bắt chặt tay từng nhà văn Việt Nam. Cùng tiếp đoàn có Phó chủ tịch Hội – Nhà thơ, nhà phê bình nổi tiếng, cũng là người tổ chức “Mùa Thu Thơ” hàng năm của Ba Lan và các nhà văn, nhà thơ trong ban chấp hành Hội: Leszek Zulinski, Wactaw Sadkowski, Garnowski.

Trong cuộc trò chuyện, chúng tôi đã được biết Hội Nhà văn Ba Lan đã tồn tại 80 năm. Từ biến động 1989, Hội chia làm hai nhánh, nhánh do nhà văn Wawrzkiewicz làm Chủ tịch đông hội viên và nhiều chi hội  (1.200 hội viên, 21 chi hội). Hội hoạt động không có ngân quỹ nhà nước. Ban lãnh đạo ăn lương hưu hoặc hưởng lương cơ quan đang làm việc, Nhà văn phải tự đóng góp để hoạt động. Hai tạp chí lớn là Thơ Ngày Nay và Văn học Ba Lan đều do các Tổng biên tập tự bỏ tiền ra xuất bản  và phát hành.

Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo và nhà thơ trẻ Natalia Pietrucha (Á hậu Waraszawa)

Nghe nói Hội nhà văn Việt Nam được Nhà nước bảo trợ, và đầu tư tiền đặt hàng sáng tác cả tỷ đồng mỗi năm, nhà thơ Gasiorowski thốt lên: “ Tuyệt vời! Có lẽ chúng tôi sẽ làm đơn xin gia nhập Hội Nhà văn Việt Nam”. Là nói thế, chứ văn học Ba Lan đang dành nhiều thành tựu thật đáng nể. Nhiều nhà văn, nhà thơ tiếp tục có tên trong các giải thưởng văn học quốc tế. Đặc biệt gần đây, nữ nhà thơ trẻ Natalia Pietrucha (sinh năm 1986) thông thạo 5 ngoại ngữ (Ý, Pháp, Nga, Anh, Latinh) được mời tham gia Ngày thơ Thế giới lần thứ 3 do UNESCO bảo trợ và đoạt nhiều giải thưởng trong các cuộc thi Quốc Tế. Natalia tặng chúng tôi tập thơ Những đôi mắt xám của toàn thế giới (Szare Oczy Calego Swiata) vừa mới xuất bản, in kèm những tấm ảnh thật đẹp của chính cô. Hoá ra, cô đã từng là Á hậu Warsza 2002, theo học lớp chuyên về vùng Địa Trung Hải, và làm biên tập viên cho tạp chí Thơ Ngày Nay. “Sứ giả của Hội nhà vănViệt Nam và Ba Lan”,  tiến sĩ Nguyễn Đình Dũng (bút danh Lâm Quang Mỹ) người làm thơ bằng hai thứ tiếng Việt Nam và Ba Lan, chuyên phiên dịch cho chúng tôi, đã tạm dịch bài thơ Con tim trong tập thơ mới này của Natalia khá thú vị:

Vào một ngày hè ấm áp

Có con bướm, cánh tả tơi

Chắc là bướm không sợ chết

Cố bay về phía chân trời

 

Lấy đâu ra chừng ấy sức

Nếu không có một niềm tin

Được tới trời xanh phút chốc

Đùa, như gió với lá cành

 

Có phải chăng là loài bướm

Không hề biết một tình yêu

Nhưng mà… trên đôi cánh lượn

Mảnh tim vỡ vụn bám nhiều

 

Chỉ thích chơi đùa phút chốc

Với trời với gió với mây

Hiến cả cuộc đời của chúng

Cho trò chơi ngắn ngủi này

Trong các buổi tiệc chiêu đãi tại  nhà hàng Việt Nam – Quê Hương và Vân Bỉnh – lần đầu tiên các nhà thơ nhà văn Ba Lan tập cầm đũa. Szulinski lúng túng mãi không tài nào gắp được thức ăn, cuối cùng anh dùng đũa xiên vào một miếng thịt nướng và giơ lên không phải để ngắm miếng thịt mà để ngắm đôi đũa. Garnowski chỉ cần thử vài lần là gắp được thức ăn. Nhà thơ Gasiorowski đã ngoài 60 tuổi ngồi cạnh người vợ trẻ chừng 30 tuổi, khuyến khích vợ uống rượu Vốt-ca trong khi chị ta chỉ uống nước lọc. Anh lấy một chiếc cốc nhờ tôi rót vào nửa cốc rượu và lén đổi cốc nước lọc của vợ. Cuối cùng vợ cũng phát hiện ra rượu Vốt-ca, và vui vẻ uống cạn. Gasiorowski cạn chén cùng chúng tôi, và anh đề nghị đọc thơ. Những bài thơ của chúng tôi (đã được Nguyễn Đình Dũng dịch ra tiếng Ba Lan được đọc lên trong cuộc rượu bằng hai thứ tiếng khiến Gasiorowski  xúc động. Rồi anh đọc mấy bài thơ ngắn. Nguyễn Đình Dũng dịch nhanh, và tôi có cảm giác rằng, thơ Gasiorowski thấm đẫm một nỗi buồn xa xăm và nhân bản: Những giọt mưa trên lá/ Nhỏ xuống ly cà phê/ Ly cà phê đầy dần tràn xuống đĩa/ Và tôi có đầy một đĩa đêm…

Nhà thơ Jan Marszatek, Tổng biên tập tạp chí Văn học Ba Lan đến chậm gần một tiếng đồng hồ. Ông ôm theo một bó tạp chí vừa ra lò. Ông đã đợi ở nhà in gần hai giờ để chờ đóng sách và vào bìa những cuốn tạp chí ra trước thời hạn mấy ngày để kịp đón đoàn nhà văn Việt Nam. Jan nói: “Tôi xin lỗi là tôi đến chậm, bởi tôi phải lựa chọn: hoặc là đến chậm, hoặc là tôi đến đúng hẹn mà không có cuốn Văn học Ba Lan có in thơ và chân dung của 5 nhà thơ Việt Nam mà tôi mang tới đây!”. Hoá ra ông ta ông đến chậm là vì lòng nhiệt thành đối với Việt Nam. Rồi ông ký tặng sách và tạp chí cho từng người. Nhà thơ A. Nawrocki, Tổng biên tập tặng cuốn tạp chí Thơ Ngày Nay số đặc biệt về liên hoan thơ Quốc tế. Nhà thơ Hữu Thỉnh và tôi thay mặt đoàn Việt Nam ký tặng các bạn Ba Lan những tờ báo Văn Nghệ và báo Thơ đăng tải và giới thiệu văn học Ba Lan. Và các nhà thơ hai nước ký tặng sách cho nhau. Nhà văn Phạm Ngọc Tiến thay mặt nhà văn Bảo Ninh tặng Hội Nhà văn Ba Lan tập tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh được dịch và xuất bản tại Varszawa… Chúng tôi có cảm giác thật đẹp về sự khởi nguồn những dòng chảy văn học hữu nghị vốn đã có từ mấy chục năm nay giữa hai Hội Nhà văn. Đấy cũng là thể hiện của văn bản ký kết hợp tác giữa hai Hội trong cuộc gặp gỡ này, nhằm giới thiệu những tác phẩm văn học xuất sắc của 2 nước cho nhau, và tăng cường giao lưu giữa các nhà văn với nhau. Thật xúc động khi nghe Jan Maraszatek phát biểu: “Thật đáng tiếc nếu sau cuộc gặp gỡ này mà không có thêm động thái gì khác. Theo tôi, thiết thực nhất là chúng ta nên làm ngay việc dịch và giới thiệu tác phẩm của nhau, và nên chọn những tuyển tập chung, nhằm làm sống động nền văn hoá hai nước chúng ta”.

3. Những đêm thơ mùa Thu

 

Sau đêm giao lưu Thơ Nhạc với cộng đồng người Việt ở Ba Lan

Khi chúng tôi đến Ba Lan thì mùa thu cũng vừa chạm ngõ thủ đô Waraszawa. Những hàng phong hai bên đường và những khu vườn đã chuyển từ màu xanh sang màu vàng non. Thỉnh thoảng có những cây phong “chín sớm”, vàng rực từ gốc cây đến ngọn cây. Nhà thơ Hoàng Trần Cương chỉ trong 3 ngày đã chụp hết 10 cuộn phim mang theo, và thường xục vào các quầy phim ảnh để mua phim với giá đắt gấp 4 lần trong nước để chụp ảnh mùa thu xứ lạnh. Trong khu vườn của nhạc sĩ Chopin thỉnh thoảng vang lên những bản đàn tuyệt diệu của ông khiến cho màu vàng của lá cây chìm vào huyền thoại của cổ tích xa xăm. Mùa thu còn theo chúng tôi xuống thăm mỏ muối nghìn năm dưới dòng đất sâu vùng Kracốp cổ xưa với 300 km đường hầm mà những người khai thác muối ở đây đã làm nên. Mỏ muối qủa là thiên đường nơi “âm ti địa ngục” vớI hàng trăm bức tượng bằng muối tuyệt đẹp miêu tả lại lao động và tín ngưỡng. Trong tột cùng của một đường hầm, chúng tôi gặp bức tượng thi hào Gớt, và nhạc sĩ vĩ đại Chopin qua dàn nhạc của một hồ nước êm đềm, sâu thẳm, nơi mà Chopin đã từng tới đây uống rượu và chơi đàn thủa sinh thời.

Trở về với những đêm thơ cùng cộng đồng người Việt tại Waraszawa bao giờ cũng là điều tuyệt vời đối với nhà thơ. Người Việt yêu thơ như một truyền thống, như một đặc sản vô cùng quý báu của kho tài sản tâm hồn. Trong đêm thơ giao lưu với Nhà văn hoá Thăng Long, một điều bất ngờ thú vị là chúng tôi được nghe những bài thơ của giám đốc Buì Anh Thái. Những bài thơ nhớ quê nhà của anh vừa dí dỏm vùa da diết, tưởng như lúc nào anh cũng mơ được về ngay chốn quê nhà. Vậy mà chính anh đã làm nên một Trung tâm văn hoá Việt tại xứ người với hình tượng con Rồng Thăng Long đắp nổi trong bể nước giữa sân, và chính nơi đây, ngôi Chùa Một Cột, biểu tượng văn hoá Hà Nội cũng sẽ được dựng lên trong nay mai. Anh Nguyễn Hoằng, đại biểu Sứ quán tuy bận việc, nhưng 10 giờ đêm vẫn đưa phu nhân tới tham dự cuộc thơ, và cùng khiêu vũ vớI các bạn trẻ. Hai đêm thơ ở phòng lớn của Nhà Hàng Quê Hương thu hút hàng trăm người tới dự, từ các bậc tiên chỉ đến các cháu nhỏ. Điều đặc biệt thú vị là Tổng giám đốc Đỗ Quân và nhà doanh nghiệp Hoàng Trần Đồng cũng tham gia đọc những bài thơ vô cùng cảm động về Mẹ , về quê hương. Nhiều tập thơ của các nhà thơ trẻ lẫn già ở đây đã đưoc xuất bản. Cầm những tập thơ của được tặng trên tay và nghe các anh chị Vũ Linh (tức Lâm), Lâm Hải Phong, Nguyễn Văn Thái, Thanh Hiên đọc thơ, mà rơm rớm nước mắt cảm thương nỗi sầu quê vạn cổ. Một điều thú vị là bác Tiên, một cựu nhà giáo lão thành đã chuyển dịch bài thơ Bàn tay thứ ba của Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha từ bản dịch tiếng Pháp sang thơ lục bát Việt Nam, khiến tác giả gốc bài thơ cảm động và khâm phục. Và chính trong những đêm thơ như vậy, Nhà thơ Hữu Thỉnh bỗng chốc thăng hoa trong những bài thơ sâu sắc và bay bổng của mình . Hoàng Trần Cương  một người vốn bị đùa là “nạt thơ” cũng bỗng dịu dàng khác thường khi đọc những bài thơ về xứ quê gan ruột của mình khiến người nghe rưng rưng xúc động. Nguyễn Thuỵ Kha ngoài việc đọc thơ còn ôm Guitare hát những bài hát Ba Lan anh thuộc từ thủa ấu thơ. Tôi vừa sắm vai MC, vừa diễn đúng vai nhà thơ nhạc sĩ của mình, và cuộc nào cũng phải hát vang lên Làng quan họ quê tôi, Khúc hát sông quê theo yêu cầu của các bạn “đồng hương” nơi đất khách… Đêm thơ nào cũng kéo dài tới tận nửa khuya, và rooif vẫn còn nối dài trong cuộc rượu nghĩa tình cho đến rạng sáng.

Mùa thu Warszawa chớm lạnh, khiến chúng tôi cứ nhớ về Hà Nội. Và những bài hát mùa thu lại được hát lên trên những chuyến xe trở về khách sạn.

4. Chuyến đi nối dài

Nhà thơ quả là nhà ngẫu hứng. Rời Waraszawa, chúng tôi không trở lại Paris bằng chuyến bay đã định sẵn, mà xách vali lên tàu sang Berlin, leo lên “tháp truyền hình quay” để ngắm thành phố trong đêm thâu huy hoàng ánh điện và lên tàu hoả đi thăm cung điện Sanssouci nổi tiếng. Rồi hành trình tới Amstekdam cổ kính của Hà Lan, xứ sở cối xay gió, bò sữa và những “phố đỏ” thâu đêm điện sáng. Lên xe bus đi trên con đường xuyên châu Âu tới Vương quốc Bỉ để đi thăm cho kỳ được tượng “Cu Đái” lấy hên. Chuyến tầu hoả cao tốc 350 km/ giờ vừa đưa chúng tôi về tới Paris lúc 5 giờ chiều thì 7 giờ tối cả đoàn đã có mặt trên tầng cao nhất của tháp Eiffel kỳ quan thế giới. Một sớm mưa lên đồi Mông Mác, thật tuyệt kỳ, chúng tôi tìm được quán bar mà ngày xưa nhà thơ Pôn Êlua và các bạn của ông vẫn thường ngồi, để giờ đây chúng tôi ngồi uống với nhau những chai bia mang nhãn hiệu 1664 nổi tiếng.

Chuyến đi nối dài châu Âu của đoàn nhà văn, nhà thơ Việt Nam rồi cùng kết thúc khi chúng tôi đặt chân lên chiếc máy bay thân thuộc của hãng Hàng không quốc gia Việt Nam trên sân bay Charle De Gaull Paris. Và cuộc bay trở về mang theo biết bao cảm xúc, biết bao dự định cho những bài thơ Ta viết về Tây…

Nguồn Nguyentrongtao

Ảnh trong bài: Nếu không ghi thêm, tất cả các ảnh trong bài này chỉ mang tính minh họa và có bản quyền như nguồn tin gốc đã đưa.

Tin liên quan

 

Booking.com
Tiêu điểm

Thảo luận

Quảng cáo