Sức khỏe

Bệnh trầm cảm và cách chữa trị

Cập nhật lúc 05-02-2014 13:06:41 (GMT+1)
Ảnh minh họa.

 

Khái niệm “bị bệnh trầm cảm” đã thay đổi ý nghĩa rất nhiều. Trước đây câu nói này chỉ có nghĩa là tâm trạng đang có vấn đề. Ngày nay – đó là căn bệnh nghiêm trọng, nếu không điều trị tốt, người bệnh sẽ không có một cuộc sống bình thường. Dưới đây là lời tâm sự của một số bệnh nhân trầm cảm.


Tôi lên cơn đói tưởng có thể chết đi được, nhưng tôi không đủ sức đưa tay với lấy cái bánh mỳ kẹp đã làm sẵn”.

“Tôi nhìn thấy đứa con trai nhỏ của mình đang trèo lên tủ, tôi muốn đứng dậy kéo nó xuống, bởi nếu không nó sẽ ngã, vậy mà tôi không sao đủ sức làm gì ngoài việc nhìn con ngã và khóc. Tôi khấn thầm, cầu mong mình có thể chết ngay để chấm dứt mọi chuyện”.

“Tôi sợ lắm. Nhưng sợ cái gì? Tôi không biết nữa. Bỗng nhiên tôi cảm thấy là ngay sau đây sẽ có chuyện rất tồi tệ. Rằng tôi sẽ chết. Tôi mở cửa đi ra ban công. Tôi muốn nhảy xuống dưới kia. Tôi cảm thấy đó chính là điều tôi phải làm. Chồng tôi ôm lấy tôi khi tôi đã vắt một chân qua tấm song sắt chắn ban công”.

Sau khi đọc những dòng này, có thể hiểu tại sao Tổ chức Y tế Thế giới dự báo đến năm 2020 trầm cảm sẽ là căn bệnh thường gặp đứng thứ hai sau bệnh suy giảm hệ tuần hoàn.

Những dòng tâm sự trên là một phần cái thế giới mà những người bị trầm cảm đang phải sống. Họ không tin rằng tình trạng này đến lúc nào đó sẽ được cải thiện, rằng họ sẽ cảm nhận được niềm vui và tràn đầy năng lực. Vì vậy những người thân phải luôn nhắc nhở họ rằng tâm trí họ đang đánh lừa họ - nó chỉ cho thấy mặt trái của thế giới, rằng căn bệnh họ mắc phải dẫn họ đến những suy nghĩ tiêu cực này, còn với bệnh tật thì nhất định họ có đủ khả năng chống lại.

Tất nhiên các trường hợp bị bệnh không giống nhau. Một số người trải qua trong cuộc đời một, hai sự kiện, sau khi điều trị, bệnh thuyên giảm và khỏi. Một số người khác phải khó khăn chống lại sự xuất hiện trở lại thường xuyên của bệnh. Điều quan trọng là làm sao để người bệnh thừa nhận mình là bệnh nhân trầm cảm.

Tại sao lại là tôi?

Trong sự phát triển bệnh trầm cảm, những yếu tố về gien cũng có và cả các yếu tố môi trường cũng có.

Nguyên nhân mắc bệnh có thể một phần do tính cách cá nhân của mỗi người, do việc con người đánh giá bản thân ra sao. Thêm vào đó là chuyện chúng ta phản ứng như thế nào trong những tình huống khó khăn, nghĩ gì về bản thân, nghĩ gì về cách cư xử của những người xung quanh với mình, đặt ra những đòi hỏi như thế nào với bản thân, cách thức và thời gian trải nghiệm thất bại. Những người dễ mắc bệnh trầm cảm là những người quá nhậy cảm, khả năng kháng stress kém, có xu hướng phản ứng trước mọi chuyện bằng nỗi lo ngại và mất bình tĩnh. Họ là những người rất hay dùng cụm từ: “tôi phải”, “tôi cần phải”, “tôi không được phép”.

Bệnh trầm cảm có thể đến từ từ, song cũng có thể bất ngờ ập đến. Đôi khi bệnh nhân lấy làm khó hiểu, tại sao trong quá khứ, khi họ gặp những khó khăn lớn hơn nhiều, họ không bị bệnh mà bây giờ lại bị? Nhất là khi trong cuộc sống của họ không hề có điều gì tồi tệ xảy ra. Họ có công ăn việc làm ổn định, có tiền, có những đứa con khỏe mạnh, có bạn đời hợp nhau. Nhưng vẫn có một cái gì đó chưa ổn – các nhà tâm thần học khẳng định. Trong thực tế, bệnh trầm cảm thường xảy ra sau khi người bị bệnh gặp chuyện không hay, như mất người thân hoặc mất mát cái gì đó mang tính vật chất (không chỉ là việc làm, tài sản, mà có thể là tự do cá nhân hay mất nhiều thời gian vào một việc không đáng mất), nhưng một bộ phận phản ứng bằng trầm cảm trước những mệt mỏi về tâm lý sau khoảng thời gian dài đã huy động sức lực quá mức.

Điều đáng nói nữa là bệnh trầm cảm không nhất thiết liên quan đến những trải nghiệm gây khó chịu. Trong sự hình thành của nó, góp phần quan trọng đôi khi là sự gia tăng cường độ tham gia cả về tâm lý và thể lực vào một cái có thể mang lại sự thoải mái, dễ chịu.

Căn bệnh có nhiều khuôn mặt khác nhau

Không phải tất cả những người mắc bệnh trầm cảm đều phải chịu nỗi khổ như nhau do chính các biểu hiện của bệnh. Bệnh nhân trầm cảm không phải khi nào cũng có tâm trạng trầm lặng hay cảm thấy trống trải trong lòng. Ở một số người, biểu hiện chủ yếu là rối loạn giấc ngủ, ở những người khác lại là thiếu hăng hái trong các hoạt động hoặc những cái thuần túy liên quan đến thể lực (đau đầu, đau vai, đau bụng dưới).

Nhờ nhưng kiến thức khoa học mới nhất, chúng ta biết rằng bệnh trầm cảm liên quan đến sự hành chức không chuẩn của hai hợp chất ở não là serotonina và noradrenalina. Đơn giản là các hợp chất này quá ít ở những người bị bệnh. Song đáng tiếc hiện vẫn chưa biết cái gì gây nên sự giảm thiểu đó. Gần đây có một lý thuyết đang dần trở nên phổ biến về ảnh hưởng của melatonina đến sự phát triển căn bệnh trầm cảm. Một số bác sĩ cho rằng bệnh trầm cảm phát triển là do hậu quả của những rối loạn nhịp sinh học: rối loạn trong suốt cả năm, trong một tháng hay trong một ngày.

Trầm cảm được chia thành các loại như trầm cảm do ngoại cảnh, tức là được tạo nên do phản ứng trước các trải nghiệm mang tính bi kịch, thí dụ cái chết của người thân, và trầm cảm nội tâm, tức là người bệnh đau khổ một cách vô cớ. Loại thứ hai này khó chữa hơn, song không có nghĩa là không thể điều trị thành công.

Suy giảm tâm trạng và thất vọng sau cái chết của người thân là một phản ứng tự nhiên. Nhưng khi nỗi buồn kéo dài quá mức (chẳng hạn như hơn ba tháng kể từ ngày tổ chức tang lễ) và gây ra những khó khăn cơ bản trong việc hành chức hàng ngày, các bác sĩ có thể đưa ra chẩn đoán về khả năng bị bệnh. Nên chú ý một điều là trong thời gian bị trầm cảm không nên đưa ra những quyết định quan trọng liên quan đến cả cuộc đời, vì khi đó những nhìn nhận của chúng ta về thế giới là sự nhìn nhận không mang tính ổn định.

Căn bệnh gần với trầm cảm là bệnh rối loạn tâm lý. Người bệnh bị suy giảm tâm trạng, có thái độ bi quan trước thế giới mình đang sống, xoay xở kém với những nhiệm vụ phải hoàn thành, luôn cảm thấy mệt mỏi, không biết ttận hưởng niềm vui trong cuộc sống. Trạng thái này thậm chí có thể kéo dài trên hai năm. Rối loạn tâm lý là căn bệnh mà các bác sĩ rất khó nắm bắt, bởi thường thì người bệnh vẫn trong trạng thái hành chức bình thường và làm những công việc hàng ngày, chỉ có điều là chất lượng cuộc sống của họ mỗi ngày một tồi hơn. Ngoài ra những người này không muốn tìm đến sự giúp đỡ của các chuyên gia, bởi vì họ thường coi những khó khăn mình đang phải chịu thuộc về tính cách. Trong căn bệnh rối loạn tâm lý, sự giảm sút tâm trạng xuất hiện từng đợt – tức là có những ngày tồi tệ hơn và có những ngày tốt hơn.

Đây đã phải là trầm cảm chưa?

Nhiều người thường đưa ra câu hỏi, liệu sự thay đổi về tâm trạng của họ đã phải là bệnh trầm cảm hay chưa. Cần phân biệt những thay đổi bình thường về tâm trạng với sự trầm cảm dựa trên sự gia tăng mức độ và thời gian kéo dài những triệu chứng trầm cảm. Chúng có thể quay trở lại hoặc tồn tại trong một thời gian dài hơn, dẫn đến những khó khăn trong chuyện giải quyết những công việc hàng ngày. Trong trường hợp xấu nhất, bệnh trầm cảm – đặc biệt là khi nó kết hợp với nỗi lo sợ - có thể dẫn đến ý định tự tử. Sự lo sợ luôn lên đến đỉnh cao vào buổi sáng sớm. Sau đó có thể giảm dần, “chỉ” còn lại là sự lo lắng bình thường. Nhiều bệnh nhân nói rằng sự lo lắng này không bao giờ buông tha họ hoàn toàn.

Nên chú ý là gia đình bệnh nhân không bao giờ được hỏi người bệnh xem họ sợ gì?. Người bệnh không có khái niệm mình sợ điều gì, bởi vì nỗi sợ ở họ là nỗi sợ vô cớ.

Những triệu chứng tâm lý của bệnh trầm cảm thường khiến họ nghĩ rằng họ đang bị bệnh trầm trọng liên quan đến tuyến giáp, tim hay ung thư. Họ lo đi khám bác sĩ chuyên khoa, làm hàng chục các xét nghiệm để nhận được kết quả là mình hoàn toàn khỏe mạnh. Nhưng bởi vì họ tiếp tục cảm thấy vẫn có những cơn đau nên phải đi tìm nguồn gốc sự đau đớn đó. Theo kết quả một số công trình nghiên cứu, những người bị bệnh trầm cảm luôn đặt ngưỡng cho cái gọi là sự đau đớn rất thấp, tức là trong những tình huống họ cảm thấy có những cơn đau thì ở người khỏe mạnh bình thường, cơn đau đó chưa đủ để có thể cảm nhận.

Triệu chúng khiến nhiều người lập tức đi gặp chuyên gia tâm thần hay chuyên gia thần kinh là thiếu ngủ. Đây là một trong số những triệu chứng rất điển hình của bệnh trầm cảm hoặc những triệu chứng trước khi mắc căn bệnh này.

Đối với những người bị bệnh, tồi tệ nhất là việc bệnh tái phát. Sau khi đã vượt qua một cách thành công cuộc tấn công đầu tiên của nó, bệnh nhân thấy tâm trạng mình tốt hơn, nhưng sau vài ba tháng nó tự nhiên quay trở lại. Người bệnh cảm thấy mình bị đánh quỵ hoàn toàn. Những tình huống này đàn ông chịu đựng kém hơn so với phụ nữ.

Điều trị ra sao?

Bệnh trầm cảm ở giai đoạn đầu có thể điều trị thông qua các phương pháp ổn định tâm trạng. Chúng có nhiệm vụ gia tăng lượng serotonina và noradrenalina trong não bệnh nhân. Trong quá trình tác động của thuốc, các nhà tâm thần học thường chuyển bệnh nhân đến các chuyên gia tâm lý trị liệu. Các loại thuốc được sử dụng có nhiệm vụ kéo người bệnh ra khỏi tình trạng nặng nhất (tức là trạng thái bệnh nhân không thiết lập được mối quan hệ với nhà tâm lý học). Tiếp theo, tâm lý trị liệu có nhiệm vụ trợ giúp bệnh nhân trong cuộc chiến tiếp theo chống lại sự tái phát bệnh.

Trước đây đã có nhiều loại chất chiết xuất dùng để chữa bệnh trầm cảm. Mới đây xuất hiện loại có tên gọi agomelatyna, có tác dụng điều chỉnh nhịp sống trong vòng một ngày đêm của người bệnh. Nó có tác dụng chống trầm cảm, song không ảnh hưởng đến serotonina. Theo các nhà sản xuất, loại thuốc này có tác dụng sau một tuần sử dụng điều trị.

Ngoài những loại thuốc ổn định tâm trạng, trong việc điều trị trầm cảm, người ta cũng dùng các loại thuốc có tác dụng bổ trợ khác – an thần và chống lo lắng. Nhiều người không muốn điều trị trầm cảm bằng thuốc, vì sợ uống vào thuốc có thể làm thay đổi tính cách. Song điều này là không thể xảy ra. Các loại thuốc hiện đại thuộc dạng SSRI hay SNRI chỉ có tác dụng với các triệu chứng trầm cảm, không làm rối loạn đầu óc, không gây nghiện. Song có một sự thật là bản thân bệnh trầm cảm làm thay đổi con người. Các bệnh nhân trầm cảm nhắc đi nhắc lại rằng cách nhìn thế giới của họ trước khi bị bệnh và sau khi mắc bệnh khác hẳn nhau.

Vấn đề quan trọng trong việc điều trị trầm cảm là người bệnh có chấp nhận thuốc hay không và thời gian đem lại hiệu quả của thuốc là bao lâu sau khi sử dụng – thường là sau khoảng hai tuần, đôi khi chậm hơn. Hiệu quả điều trị có thể xác định sau từ bốn đến sáu tuần. Đó là khoảng thời gian khó khăn đối với người bệnh nên rất cần làm sao để họ nhận thức rõ vấn đề này. Không chỉ là suy nghĩ về chuyện thuốc không có tác dụng mà còn là việc đôi khi họ có cảm giác rằng bệnh tình của họ có xu hướng xấu đi. Nhiều khi bệnh nhân cảm thấy yếu đi sau khi sử dụng các loại thuốc được kê, khi đó phải thay bằng các loại khác. Rất may là khả năng lựa chọn có nhiều và thường thì trong các trường hợp này, người điều trị có thể chọn được loại thuốc mà bệnh nhân chấp nhận.

Những phương pháp điều trị trầm cảm khác

Đó là photo trị liệu (điều trị trầm cảm theo mùa), xung điện, phẫu thuật (trong các trường hợp đặc biệt). Xung điện được sử dụng tại bệnh viên cho những người điều trị bằng thuốc không thành công. Hai cực điện được gắn vào hai bên thái dương bệnh nhân, cho dòng điện cường độ thấp chạy qua trong 2 – 3 giây. Thoạt nghe thấy có vẻ nguy hiểm, song các bác sĩ ủng hộ phương pháp này thì tin rằng đôi khi nó cho kết quả điều trị tuyệt vời.

Những triệu chứng trầm cảm

- suy giảm tâm trạng;

- có cảm giác buồn và thơ ơ với mọi chuyện;

- không có khả năng tận hưởng niềm vui;

- thường xuyên cảm thấy lo lắng, sợ hãi;

- bị các cơn sự hãi ập đến bất ngờ;

- rối loạn giấc ngủ: ngủ ngắt quãng và thức dậy sớm;

- không thấy thèm ăn nên giảm cân;

- rối loạn trí nhớ và mất tập trung (xuất hiện với danh nghĩa một trong những triệu chứng đầu tiên và biến mất với danh nghĩa triệu chứng cuối cùng);

- chậm chạp trong suy nghĩ và trả lời;

- giảm sự nhanh nhẹn và gặp khó khăn khi phải đưa ra những quyết định đơn giản nhất cho đến khi thiếu hẳn khả năng đưa ra các quyết định nói chung;

- các động tác trở nên chậm chạp, trong một số tình huống thậm chí hoàn toàn bất động;

- giảm hoặc mất hoàn toàn ham muốn tình dục;

- lảng tránh sự gần gũi với những người mình yêu mến.

Mức độ nghiêm trọng và giới tính

1. Về số người mắc bệnh, trầm cảm hiện nay là vấn đề sức khỏe nghiêm trọng đứng thứtư trên thế giới – có khoảng 120 triệu người mắc bệnh.

2. Phụ nữ mắc bệnh trầm cảm nhiều gấp hai lần đàn ông.

Nguồn: Nguyễn Chí Thuận/Queviet

 

Booking.com
Tiêu điểm

Đọc nhiều

Thảo luận

Quảng cáo