GS Tôn Thất Tùng – trong mắt hậu thế
Cập nhật lúc 28-06-2012 20:15:59 (GMT+1)
Giáo sư-bác sĩ-Viện sĩ Tôn Thất Tùng là một danh nhân văn hóa vượt thời đại. Người khai căn và tạo dựng nền y khoa hiện đại Việt Nam, và là người đột phá chuyên ngành phẫu thuật gan của thế giới.
Ba mươi năm sau ngày GS Tôn Thất Tùng qua đời, Huế tổ chức Hội thảo kỷ niệm 100 năm ngày sinh (10/5/1912-10/5/2012) của con người lỗi lạc này tại Bệnh viện Trung ương Huế. Hội thảo không chỉ thu hút những người con trong thân tộc Tôn Thất ở Huế, các thế hệ sinh viên y khoa Việt Nam, mà còn có các chuyên gia phẫu thuật hàng đầu của Pháp.
Đứng từ thời điểm hôm nay, GS Tôn Thất Tùng đã được đánh giá như một chân dung của người trí thức hội tụ nhiều phẩm chất ưu tú của truyền thống văn hóa Huế và dân tộc. Đó là một nhà khoa học say mê và uyên bác, một bác sĩ tận tụy và nhân ái, một người thầy nghiêm khắc mà độ lượng. Ông là một tấm gương lao động hết mình vì sự nghiệp y học của dân tộc Việt Nam và nhân loại.
Nhân cách đa diện của GS Tôn Thất Tùng đã ảnh hưởng có tính quyết định đối với một thế hệ y khoa Việt Nam. Nhiều học trò, mà nay là những giáo sư đầu ngành, bồi hồi nhớ lại năm tháng được ở bên thầy Tùng.
Trong điều kiện vật chất hết sức khó khăn của chiến tranh, thầy đã truyền dạy không chỉ là kiến thức khoa học, mà còn là phương pháp nghiên cứu và thực hành phẫu thuật; không chỉ là đạo đức làm người thầy thuốc, mà còn là tinh thần tự trọng dân tộc. Niềm say mê và khổ hạnh khoa học, lòng yêu thương con người và tinh thân yêu nước của thầy, là bài học đầu tiên cho những sinh viên khi bước chân vào nghiệp y.
Có thể nói, tâm hồn và trí tuệ của GS Tôn Thất Tùng đã tác động mạnh mẽ đến năng lực và hoài bão của mỗi người sinh viên. Phần lớn những chuyên gia phẫu thuật hiện nay đều là những người từng theo gót chân của GS Tôn Thất Tùng.
Tuy nhiên, ý nghĩa của hội thảo không chỉ là khẳng định lại uy tín, tầm vóc và đóng góp to lớn của GS Tôn Thất Tùng đối với lĩnh vực y học Việt Nam và thế giới, mà quan trọng hơn, là tìm hiểu, khám phá về những điều chưa biết tới về GS Tôn Thất Tùng. Đây chính là khởi động quan trọng để thế hệ y khoa hiện nay tiếp tục suy ngẫm, học tập nhân cách của con người đặc biệt này.
Từ góc nhìn sử học, bằng cứ liệu xác đáng, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều điều mới mẻ về thân thế của GS Tôn Thất Tùng. Dựa trên phả hệ và những nhân chứng trong thân tộc Tôn Thất tại Huế, Tiến sĩ sử học Nguyễn Văn Đăng đã “lần tìm” lại cội nguồn của GS Tôn Thất Tùng và cho thấy: ông xuất thân trong một dòng dõi hoàng tộc đa tài và đa tình. Là hậu duệ thứ 6 của chúa Nguyễn Phúc Khoát, một dòng họ có nhiều nhân vật lịch sử nổi tiếng gắn với những thăng trầm của vận mệnh dân tộc.
![]() |
|
Ông Tôn Thất Niêm ( 1856 - 1914)
|
Ít ai biết rằng, GS Tôn Thất Tùng là con thứ 25 của Phó bảng Tôn Thất Niêm (1856-1914). Đó là kết quả của mối tình say mê giữa ông Tổng đốc đa tình và cô Hồng Thị Mỹ Lệ đoan trang, xinh đẹp (1876-1949). Ông Tôn Thất Niêm có 5 vợ và 3 nàng hầu.
Bà Mỹ Lệ là vợ thứ 4 và rất được ông yêu mến. Tôn Thất Tùng sinh ở Thanh Hóa (1912, khi cha làm Tổng đốc). Hơn một tuổi thì ông Tôn Thất Niêm đột ngột qua đời, nên Tôn Thất Tùng phải theo mẹ trở về Huế. Và hầu như tuổi thơ của ông gắn bó bên người mẹ hiền từ, nhân hậu và có nghị lực.
Tại ngôi nhà vườn bên cồn Dã Viên, người vợ trẻ góa bụa đã nuôi 5 người con khôn lớn. Người mẹ đó đã có những ảnh hưởng căn bản đến tư chất nhân ái và thông minh của GS Tôn Thất Tùng - nhà khoa học lỗi lạc sau này.
Từ góc độ khoa học, các nhà nghiên cứu đã đặt ra câu hỏi: Nguyên nhân nào đã dẫn đến sự thành công có tính đột phá trong lĩnh y học của Giáo sư - bác sĩ - viện sĩ Tôn Thất Tùng?
Việc ông được bầu vào Viện Hàn lâm phẫu thuật Paris, được nhận giải thưởng Lannelongue - một giải thưởng được đánh giá là hiếm hơn cả giải Nobel dành cho các nhà vật lý hay giải thưởng Fields dành cho các nhà toán học, quả thực, đòi hỏi chúng ta phải đối diện với câu hỏi vừa nêu…
Để góp phần tường minh câu hỏi trên, nhằm giúp bạn đọc biết thêm về nhân cách của con người đặc biệt này, sau đây, chúng tôi xin trích đăng một số ý kiến của các chuyên gia phẫu thuật Việt Nam và Pháp - những người đã chịu ảnh hưởng sâu sắc quan điểm và phương pháp y học của GS Tôn Thất Tùng.
Một trong những ông tổ tiêu biểu nhất trong phẫu thuật hiện đại về gan
![]() |
| Bà Hồng Thị Mỹ Lệ (1876 - 1949) |
(Thư gửi từ Paris của GS DANIEL JAECK, Phó chủ tịch Hiệp hội Phẫu thuật viên quốc tế, Đại học Strasbourg, Pháp)
… Một nhân cách lớn lao, trí tuệ uyên bác và kỹ thuật phẫu thuật tuyệt vời của giáo sư vẫn còn khắc sâu trong trí nhớ của chúng tôi. Đối với chúng tôi, giáo sư vẫn là một trong những ông tổ nổi tiếng nhất, tiêu biểu nhất trong phẫu thuật hiện đại về gan. Các công trình của giáo sư là nguồn gốc của những tiến bộ lớn lao trong chuyên ngành phẫu thuật. Giáo sư đã có công lao lớn nhất trong việc tạo dựng và phát triển phương pháp phẫu thuật gan hiện đại trên toàn thế giới.
Nhờ các công trình của giáo sư, hằng nghìn bệnh nhân đã được phẫu thuật cắt bỏ một hoặc nhiều khối u ở gan. Cho phép phẫu thuật gan đạt đến mức an toàn, thích hợp với mọi hình thái, đại phẫu gan cũng như phẫu thuật gan hạ phân thùy. Nhờ các công trình của giáo sư, các biến chứng phẫu thuật gan giảm thiểu rõ rệt và tỷ lệ tử vong giảm nhiều.
Thậm chí hiện nay, tên của giáo sư cũng như những công trình của giáo sư vẫn được vinh danh trong mọi hội nghị về phẫu thuật gan.
Tôi có may mắn gặp GS Tôn Thất Tùng nhiều lần ở Hà Nội, lần đầu vào năm 1975 khi tôi đang là phẫu thuật viên của Bệnh viện Mahosot và là Giáo sư khoa Y ở Vientiane (Lào). Ngay tức khắc tôi xúc động với kiến thức, lòng nhiệt thành, trình độ phẫu thuật khéo léo, nhưng đặc biệt là nhân cách của người đi tiên phong, thật sự là thủ lĩnh của trường phái.
Trải qua nhiều ngày trong khoa của giáo sư, tôi nhận ra sự yêu mến và quý trọng của bao nhiêu học trò đối với giáo sư. Sau cùng, tôi còn có đặc ân được gặp GS Tôn Thất Tùng ở châu Âu dịp Hội nghị ở Đại học Strasbourg, giáo sư đã có được thành công rất lớn.
Tôi tự hào để có thể nói rằng tôi cũng là một học trò của GS Tôn Thất Tùng, giáo sư đã ảnh hưởng có tính quyết định lên sự lựa chọn chuyên ngành phẫu thuật của tôi. Giáo sư là một trong số người thầy lớn lao đã truyền dạy và gây ấn tượng nhiều nhất cho sự nghiệp phẫu thuật của đời tôi.
Di sản quan trọng của thầy Tôn Thất Tùng chính là tư duy nghiên cứu khoa học
(GS-TS BÙI ĐỨC PHÚ, Giám đốc Bệnh viện Trung ương Huế)
…GS Tôn Thất Tùng là người đầu tiên đặt nền móng xây dựng ngành Ngoại khoa Việt Nam. Dưới sự dạy dỗ, dìu dắt của thầy, một thế hệ đầu đàn của các chuyên ngành ngoại khoa đã trưởng thành: tiêu hóa gan mật có GS Nguyễn Văn Vân, GS Nguyễn Đình Hối, GS Đỗ Kim Sơn, GS Đỗ Đức Vân; tim mạch - lồng ngực có GS Đặng Hanh Đệ, GS Tôn Thất Bách; thần kinh có GS Nguyễn Thường Xuân; chấn thương có GS Đặng Kim Châu, GS Đoàn Lê Dân, GS Nguyễn Quang Long; tiết niệu có GS Nguyễn Bửu Triều…
Nhận định đầu tiên là thầy là một người hết sức mô phạm, mẫu mực trong ứng dụng kỹ thuật. Quan điểm của thầy là phải khởi đi từ thực nghiệm, thảo luận rốt ráo, trao đổi kỹ lưỡng với chuyên gia và sau đó mới có thể ứng dụng phẫu thuật trên người…
Trong cuộc mổ, thầy rất chú ý đến từng động tác của các học trò: từ cách buộc một mũi chỉ cho đến cầm kéo cắt chỉ, thầy thường uốn nắn ngay hoặc bắt làm lại. Đôi khi có những tổn thương trong cuộc mổ không tương xứng với chẩn đoán trước đó. Thầy vẫn dạy chúng tôi, vấn đề là khả năng nhận định tổn thương, đề ra những kế hoạch cụ thể: “xếp thành ô trong đầu” các phương án giải quyết, tự mình phải tính trước những biến chứng có thể xảy ra để luôn luôn chủ động trong mọi tình huống.
Đối với thầy, một nhà ngoại khoa, một phẫu thuật viên không chỉ có đôi bàn tay mổ xẻ hàng loạt… mà còn cần phải có kiến thức sâu rộng về các chuyên ngành khác. Việc bồi dưỡng nâng cao kiến thức phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, suốt cuộc đời chứ không chỉ ngày một ngày hai.
Chẳng hạn, một nhà ngoại khoa cần có những kiến thức cơ bản về chuyên ngành giải phẫu bệnh để có thể nắm chắc bản chất bệnh lý của tổn thương, từ đó có những kỹ thuật xử trí phù hợp. Bản thân chúng tôi trước khi “học mổ” đều phải trải qua nhiều tháng học chuyên ngành giải phẫu bệnh. Không chỉ có thế, đối với một phẫu thuật viên, việc nắm chắc kiến thức cơ bản của các chuyên ngành khác rất quan trọng, chúng có tác dụng hỗ tương, phối hợp để làm bộc lộ rõ chân xác vòng tròn bệnh lý.

Tượng GS Tôn Thất Tùng được đặt tại khuôn viên Bệnh viện Trung ương Huế
Tôi có một kỷ niệm về một buổi giao ban điều trị tại Bệnh viện Việt Đức, hôm đó tôi phải báo cáo tình hình phiên trực đêm trước, trong đó có một ca chấn thương sọ não. Thầy Tùng truy tôi nguyên nhân của bệnh đến câu thứ ba thì tôi ấm ớ không trả lời được, rõ ràng là không nắm rõ nguyên nhân - một phần cũng do bệnh vào quá đông chúng tôi không kịp hỏi kỹ.
Đây là một bài học mà thầy Tùng dành cho chúng tôi: trước một ca chấn thương sọ não, cần phải tìm hiểu nguyên nhân chấn thương, nó giúp người phẫu thuật viên đánh giá được vị trí, mức độ của thương tổn để có hướng xử trí thích hợp.Việc tìm hiểu kỹ nguyên nhân chấn thương còn là một kênh quan trọng trong hỗ trợ công tác pháp y nếu cần thiết, hay thậm chí làm cơ sở cho việc phòng ngừa trong tương lai. Hóa ra, công việc của một nhà ngoại khoa không chỉ là “cứ việc mổ, mổ và mổ”!
Những bài học sinh động ấy của thầy Tùng thấm vào chúng tôi lúc nào không hay, thật nhẹ nhàng mà sâu sắc và cứ ngày một đầy thêm. Với riêng tôi, buổi giao ban hôm ấy còn cho tôi bài học “nhớ đời” về sự trung thực của một người làm trong ngành y, trung thực ngay trong một lời báo cáo, đặc biệt đối với những ai mới chập chững vào nghề.

Nhân câu chuyện về buổi giao ban, tôi cho rằng tất cả các thế hệ bác sĩ ngoại khoa từng học tập ở Bệnh viện Việt Đức, Hà Nội không ai có thể quên được những buổi giao ban mà thầy Tôn Thất Tùng chủ trì. Mỗi buổi giao ban đều mang sức nặng của những giá trị mà chỉ có thể có ở những góc giảng đường-thánh đường: sự đồ sộ của kiến thức, của kinh nghiệm, những“cây cao bóng cả” trong chuyên môn cũng như trong tình cảm thầy trò, là nơi cho tất cả mọi người - cả thầy và trò - có cơ hội được thể hiện mình.
Bản thân thầy là người có nghệ thuật thuyết phục người khác, ưa đổi mới, nâng tầm, quyết không lặp lại chính mình… đã cuốn hút và kích thích chúng tôi.
Một di sản vô cùng quan trọng của thầy Tôn Thất Tùng chính là tư duy nghiên cứu khoa học. Tư duy ấy là gì? Đó chính là sáng tạo khoa học phải dựa trên nền tảng thực tế, lấy thực tế làm thước đo cho lý luận. Và thành quả sáng tạo có được không chỉ từ trí tuệ và tư duy mà còn nhờ vào sự lao động chuyên cần, không mệt mỏi.

Lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên - Huế tặng quà lưu niệm gia đình GS Tôn Thất Tùng nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông
Người xây dựng nền y khoa hiện đại Việt Nam mang tầm quốc tế
(Thư gửi từ Paris của GS YVES LECOMPTE - chuyên gia hàng đầu về phẫu thuật tim bẩm sinh của Pháp)
Tôn Thất Tùng là nhân vật đặc biệt nhất mà tôi đã may mắn gặp được trong suốt cuộc đời mình.
... Tôi đã gặp Tôn Thất Tùng lần đầu tiên vào khoảng những năm 60. Bất chấp cuộc chiến tranh mà ai cũng biết rằng anh đã luôn giữ vai trò lỗi lạc trong suốt cuộc chiến này, anh Tùng đã luôn gắn bó với phương pháp phẫu thuật của Pháp.
Ngay khi có cơ hội, anh đã quyết định quay trở lại và phát triển các mối quan hệ với trường phái phẫu thuật này và vì thế anh đã thường xuyên đến tham quan các cơ sở y tế tại Paris, và đặc biệt là các cơ sở phẫu thuật gan. Chính tại một trong các cơ sở y khoa này, tôi đã quen biết anh khi mình mới chỉ là một bác sĩ trẻ mới vào nghề.
... Năm 1978, tôi được gặp lại anh nhân cuộc tiếp tân chúc mừng anh tại một bệnh viện ở Paris. Trước sự kinh ngạc của tôi, anh đã nhờ tôi giúp anh triển khai kỹ thuật mổ tim hở tại Hà Nội. Vào thời điểm đó, ý tưởng của anh thật điên rồ. Song anh cứ nài nỉ tôi và thuyết phục tôi rằng đây là cơ hội duy nhất để thúc đẩy nền ngoại khoa của Việt Nam có bước nhảy vọt để tiếp cận nền y học hiện đại, trên con đường thẳng tiến sáng tạo, và rằng đó cũng là mục tiêu của anh kể từ khi kết thúc thời kỳ đô hộ Pháp. Tôi đã đồng ý.
... Tôi đã gặp anh lần cuối tại Paris, chỉ vài tuần trước khi anh qua đời. Đã từ lâu, tôi tự thuyết phục mình rằng phải viết một hồi ký về anh: anh đã không chỉ là một chứng nhân xuất sắc, một nhân tố tích cực của các sự kiện và biến động chính trị, văn hóa, xã hội; mà anh còn là một trong những ít người có thể thuật lại nhũng sự kiện, biến động này với cách nhìn nhận có khoảng cách và óc phê phán trong mức độ cần thiết nhằm tạo được sự quan tâm của toàn cầu...
Thật đáng tiếc, trái tim anh đã rẽ ngoặt, và thế là những gì anh đang có để truyền lại cho thế hệ sau đã vĩnh viễn ra đi.
Dĩ nhiên, anh đã để lại dấu ấn rất sâu đậm trong nền y tế Việt Nam. Tôi hiểu rằng phần đời mà tôi được sống bên anh, sự “cất cánh” của ngành mổ tim, chỉ là một mảng nhỏ trong sự nghiệp y khoa của anh.
Ngoài ra, sự cống hiến của anh còn là những nghiên cứu khoa học, đặc biệt trong lĩnh vực giải phẫu gan và những hệ quả rút ra từ đó cho kỹ thuật phân chia mạch máu trong gan. Đây là hai thành tựu vô cùng to lớn của anh; song đối với tôi điều đáng ngưỡng mộ hơn cả, đó là anh đã không chỉ hoàn thành được hai kỹ thuật ngoại khoa rất phức tạp này, mà còn liên kết được hai kỹ thuật đó trong điều kiện hết sức khó khăn.
Ở phần trên, tôi đã cho việc anh đề nghị phẫu thuật tim tại Việt Nam trong những năm 70 là một ý tưởng điên rồ. Sẽ quả là một ý tưởng điên rồ thật nếu anh đã không huy động được những khả năng siêu phàm: phát huy nhiệt huyết và nghị lực của các đồng sự, kết hợp việc phân tích sát thực những khó khăn về điều kiện phẫu thuật với phương thức vượt mọi khó khăn; chính những đặc điểm này đã giúp anh đưa những giấc mơ của mình vào thực tế với tinh thần bền bỉ và lòng dũng cảm không bao giờ cạn.
... Tôn Thất Tùng luôn có mối quan hệ gắn bó với văn hóa. Xuất thân từ tầng lớp hoàng phái Việt Nam, sau đó lại trở thành một học trò và một cán bộ của nền y học Pháp, một nhân tố tích cực trong phong trào cách mạng, anh đã thấm nhuần trong mình nhiều nền văn hóa khác nhau mà anh luôn biết chế ngự một cách thuần thục, không để mình bị giam hãm trong bất kỳ nền văn hóa nào.
Anh khiến mọi người có cảm giác là anh làm chủ mọi biến động của các nền văn hóa bằng cách tìm kiếm trong sự phong phú ấy những tinh hoa của mỗi nền văn hóa. Một ví dụ đơn giản về khả năng này chính là quan niệm của anh trong quá trình phát triển nghiên cứu bệnh lý về sỏi mật.
Anh bảo là mình đã học phương pháp phẫu thuật này từ các thầy người Pháp. Song, cho rằng những biểu hiện của bệnh sỏi mật ở người Việt Nam không hoàn toàn giống như vậy, nên anh đã cố nghiên cứu nguyên nhân của sự khác biệt đó, mô tả tầm quan trọng của bệnh lý nhiễm ký sinh trùng và từ đó hạn chế kết quả điều trị.
Khả năng tham khảo tận gốc rễ các nền văn hóa khác nhau không phải để tạo ra sự đối kháng, mà để khiến chúng phát huy hiệu quả hơn cho y học; đó chính là di sản quý báu nhất mà Tôn Thất Tùng để lại cho hậu duệ. Anh đã áp dụng nguyên tắc này cho mọi lĩnh vực của đời sống: y học, lịch sử, văn học và chính trị.
Đương nhiên, sẽ là quá tự phụ nếu dám nói có thể học được đức tính đó của anh: anh có những đức tính riêng và một quá trình lịch sử của bản thân, khiến anh có được sự khoáng đạt và tầm tư duy mà chúng ta không thể đạt được...
Nguồn: honvietquochoc.com


