Nhân vật

10 người đàn bà đẹp huyền thoại Việt Nam

Cập nhật lúc 23-10-2012 18:58:40 (GMT+1)
Nữ tướng Bùi Thị Xuân. Ảnh: Internet

 

Trải qua 4000 năm lịch sử, Việt Nam đã sinh ra không biết bao nhiêu người tài giỏi về mọi mặt và trong đó, không thể thiếu các nữ anh hùng.


Nhân ngày Phụ nữ Việt Nam (20/10), Báo điện tử Kiến Thức giới thiệu 10 nữ danh nhân mà tên tuổi gắn liền với lịch sử dân tộc và mang tầm thế giới.

Hai Bà Trưng

Hai Bà Trưng là tên gọi chung của Trưng Trắc và Trưng Nhị. Riêng Trưng Trắc được sách Đại Việt sử ký toàn thư coi là một vị vua trong lịch sử Việt Nam. Dù triều đại của bà chỉ ngắn ngủi 3 năm, nhưng đã mở ra kỷ nguyên độc lập đầu tiên trong lịch sử dựng nước và giữ nước.

 

Hai Bà Trưng (Tranh Đông Hồ)

Sử sách chép rằng, Hai Bà Trưng là con gái Lạc tướng huyện Mê Linh và bà Man Thiện (cháu chắt bên ngoại của Vua Hùng). Năm 40 thời Bắc thuộc, Thái Thú Tô Định bắt giết ông Thi Sách, chồng bà Trưng Trắc và đàn áp dân Lạc Việt. Hành vi bạo ngược đó không làm cho Trưng Trắc sờn lòng, mà trái lại làm cho bà và em gái Trưng Nhị quyết tâm tiến hành cuộc khởi nghĩa đánh đổ chính quyền đô hộ, rửa nợ nước, trả thù nhà, dựng lại cơ nghiệp xưa của các vua Hùng.

Vào mùa xuân, tháng hai năm Kiến Vũ thứ 16, tức là khoảng tháng ba năm 40 đầu Công nguyên, cuộc khởi nghĩa bùng nổ. Trưng Trắc và Trưng Nhị đã chiêu tụ được anh hùng hào kiệt bốn phương, trong đó phần lớn là nữ giới: Ả Tắc, Ả Dị, Bát Nàn công chúa (xinh đẹp lại giỏi võ nghệ), Lê Chân (khỏe mạnh, xinh đẹp, giỏi võ), Thành Thiên công chúa (mộ quân chiến đấu, đem quân về hội với Hai Bà Trưng), Thiều Hoa công chúa (ngày đêm luyện tập võ nghệ, tập hợp trai gái trong làng, bày trò đánh phết để tăng thêm sức khỏe và sự nhanh nhẹn), Lê Thị Hoa (mộ quân rồi về hội quân với Trưng Trắc, Trưng Nhị), nàng Quốc… Tất cả hào khí ngút trời, đã đánh đuổi Tô Định, đoạt 65 thành và 4 quận. Nền độc lập được phục hồi. Trưng Trắc được suy tôn làm vua, xưng là Trưng Vương, đóng đô ở Mê Linh.

Tuy nhiên, 3 năm sau đó, quân Hán dưới sự chỉ huy của Mã Viện đã kéo sang xâm lược nước ta. Trước sức mạnh của địch, vì không muốn chịu khuất phục, hai Bà đã gieo mình xuống dòng Hát Giang tự tận (tháng 5 năm 43). Song, cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đã mở đường tiên phong cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc vào các thế kỷ tiếp đó.

Về Hai Bà Trưng, sử gia Lê Văn Hưu viết trong Đại Việt sử ký toàn thư: “Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, cùng 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay, có thể thấy hình thế đất Việt ta đủ dựng được nghiệp bá vương”. Còn sử nhà Hán cũng phải công nhận rằng, bà Trưng Trắc là người “rất hùng dũng, có can đảm và dũng lược”.

Hiện nay, có nhiều đền thờ Hai Bà Trưng và ngày lễ hội kỷ niệm hàng năm vào mồng 6 tháng hai âm lịch.

Bà Triệu

Bà Triệu, còn được gọi là Triệu Trinh Nương, Triệu Thị Trinh, sinh năm Bính Ngọ (226) tại miền núi Quân Yên, quận Cửu Chân (nay thuộc làng Quan Yên, xã Định Tiến, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa).
Sử gia Ngô Sĩ Liên nhận xét: “Bà Triệu là người con gái ở quận Cửu Chân, họp quân trong núi, đánh phá thành ấp, các bộ đều theo như bóng theo hình, dễ hơn trở bàn tay. Tuy chưa chiếm giữ được đất Lĩnh Biểu như việc cũ của Trưng Vương, nhưng cũng là bậc hùng tài trong nữ giới”.

Theo truyền thuyết và thần tích, năm 19 tuổi, Triệu Thị Trinh và anh trai Triệu Quốc Đạt tập hợp nghĩa quân, lập căn cứ ở Phú Điền (Hậu Lộc, Thanh Hóa). Lúc đó, vì lo cho em gái, Triệu Quốc Đạt có ý can ngăn, bà Triệu đã có câu trả lời đầy chí khí: “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người”.

 

Bà Triệu (Tranh Đông Hồ)

Cảm phục ý chí của Triệu Thị Trinh, dân chúng Cửu Chân theo phục bà rất đông. Năm 248, nghĩa quân bắt đầu tấn công quân Ngô. Lúc đó, được tôn bà là Nhụy Kiều tướng quân, Bà Triệu ra trận, cưỡi voi mặc giáp vàng trông rất oai phong, khiến quân Ngô phải khiếp sợ; thứ sử Giao Châu phải bỏ thành chạy trốn… Vua Ngô hay tin cuộc khởi nghĩa lan nhanh, đã phái viên tướng đầy kinh nghiệm trận mạc là Lục Dận chỉ huy 8.000 quân tinh nhuệ sang đàn áp cuộc khởi nghĩa. Bà Triệu kiên cường chiến đấu, nhưng 6 tháng sau, vì có kẻ phản bội, nghĩa quân bị bất lợi. Bà giao binh cho ba tướng họ Lý, rồi lên núi Tùng (xã Triệu Lộc) tự vẫn ở 23 tuổi.

Hiện nay, có đền thờ Bà Triệu trên núi Gai (núi Ải), làng Phú Điền (Thanh Hóa) và lễ hội kỷ niệm vào ngày 21 tháng 2 âm lịch hàng năm.

Nguyên phi Ỷ Lan

Ỷ Lan (1044?–1117) là vợ Vua Lý Thánh Tông, mẹ của Vua Lý Nhân Tông và đồng thời là một trong những nữ danh nhân có tài trị nước của triều Lý và của dân tộc.

Bà tên thật là Lê Thị Yến, cũng có sách ghi Lê Thị Yến Loan hay Lê Thị Khiết. Tương truyền, bà đứng tựa gốc lan trong khi mọi người trong làng nô nức ra xem đoàn xa giá của Vua Lý Thánh Tông đi qua. Vì cảm sắc đẹp và thái độ dửng dưng lạ lùng của bà, nhà vua bèn tuyển về cung làm Ỷ Lan phu nhân, rồi sau này là Ỷ Lan Nguyên phi và Ỷ Lan Hoàng thái hậu.

 

Nguyên Phi Ỷ Lan. Ảnh minh họa

Theo sử cũ, khác với các mỹ nhân chốn cung cấm, Ỷ Lan không lấy việc chau chuốt nhan sắc mong chiếm được tình yêu của vua, mà quan tâm đến hết thảy mọi công việc trong triều đình. Bà khổ công học hỏi, miệt mài đọc sách nên chỉ trong một thời gian ngắn, đã có sự hiểu biết uyên thâm về nhiều mặt, trở thành người “nổi danh tài sắc”, khiến triều thần vô cùng bái phục.

Năm Kỷ Dậu (1069), Vua Lý Thánh Tông thân chinh cầm quân đi đánh phương Nam, đã trao quyền nhiếp chính cho Ỷ Lan. Lúc này, nói về tài điều khiển chính sự của bà, sử sách có đoạn chép: Từ ngoài biên ải, Vua Lý Thánh Tông đánh trận lâu ngày không thắng, chán nản rút quân quay về. Về chưa đến nơi, nghe dân chúng Châu Cư Liên (Tiên Lữ, Hải Hưng) ca ngợi Nguyên phi ở nhà trị nước rất giỏi, lòng dân cảm hóa, được suy tôn là bà Quan Âm, nhà vua đã tự trách mình: "Nguyên phi là đàn bà còn làm được như thế, ta là đàn ông há thua sao!”. Vua lại tiếp tục trở ra đánh giặc, lần này thắng lớn…

Ỷ Lan rất chăm lo đến việc mở mang dân trí, thi cử học hành. Bà ban hành nhiều chính sách tiến bộ như chuộc nô tỳ, tha cung nữ, giảm tô thuế, cấm giết trâu bò. Bà cũng có công xây dựng hàng trăm ngôi chùa. Chính nhờ câu chuyện giữa bà và các vị sư thời Lý , mà đến nay mới biết được gốc tích sự truyền bá đạo Phật vào Việt Nam. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu văn học đã xếp Ỷ Lan Nguyên phi vào hàng tác gia văn học thời Lý - Trần.

Hiện nay, ngoài đề thờ Ỷ Lan Nguyên phi ở xã Dương Xá (Gia Lâm, Hà Nội), ở đền Gềnh (xã Như Quỳnh) cũng đã khôi phục lại đền thờ bà sau nhiều năm bị chiến tranh tàn phá.

Bắc cung hoàng hậu Lê Ngọc Hân, nữ tướng Bùi Thị Xuân, nữ sĩ Đoàn Thị Điểm… là những người đàn bà đẹp huyền thoại Việt Nam tiếp theo, mà Kiến Thức giới thiệu tới độc giả.

Bắc cung hoàng hậu Lê Ngọc Hân

Trong lịch sử Việt Nam, có một nhân vật nữ nổi tiếng, được sử sách nhắc nhiều nhất là công chúa Lê Ngọc Hân (1770 - 1799) - con gái thứ 9 của vua Lê Hiển Tông và đồng thời là Bắc cung hoàng hậu của Hoàng đế Quang Trung.

Nhiều sử gia cho rằng, Ngọc Hân lấy vua Quang Trung là cuộc hôn phối chính trị ở lúc thế nước chẳng đặng đừng. Vua Lê đã sử dụng con gái làm “mỹ nhân kế”, nhưng khi cuộc hạnh ngộ anh hùng - mỹ nhân diễn ra thì cuộc hôn nhân ép buộc đã trở thành mối tình đẹp nổi tiếng trong sử Việt.

 

Bắc cung hoàng hậu Lê Ngọc Hân. Ảnh minh họa

Vì giỏi văn thơ, Ngọc Hân được Nguyễn Huệ yêu say đắm. Nguyễn Huệ cũng được Ngọc Hân xem như một vĩ nhân hiếm có. Không chỉ yêu vì nết, Nguyễn Huệ còn trọng Ngọc Hân vì tài, nên giao coi giữ các văn thư trọng yếu, phong cho chức nữ học sĩ, dạy dỗ các con cái và các cung nữ. Tuy nhiên, trong thực tế, Ngọc Hân còn trở thành người cộng sự đắc lực, tin cẩn về lĩnh vực văn hóa, giáo dục cho chồng; đồng thời khuyên giải cho chồng trong nhiều việc hệ trọng khác như khuyên chồng chấm dứt cuộc xung đột với Nguyễn Nhạc...

Minh chứng cho điều này, theo sách Những khám phá về Hoàng đế Quang Trung, công việc của Bắc cung Hoàng hậu Ngọc Hân trong việc triều chính ở Phú Xuân lúc nhà vua còn sống, đã được ghi lại trong một số biểu văn đương thời. Cụ thể, một số bài biểu chúc mừng Ngọc Hân nhân dịp tết Đoan Ngọ (5 - 5 âm lịch) có đoạn như sau (Bài biểu do triều thần chúc tụng):

"…Kính nghĩ Hoàng hậu là ánh sáng toả lan của lá ngọc cành vàng, là chi nhánh của sông Ngân, sông phái. Lúc bà vu quy cung nhân theo thử bậc, thuận lòng giúp rập, giặt giũ áo xiêm, tiếng tột đã chói lọi, nên cung kính thuận hoà, khi đưa dâu theo hằng trăm cỗ.

Lúc gà gáy, nửa đêm, bà ân cần giúp hoàng đế mặc áo thêm để lo việc triều chính. Đặt nền tảng đầu tiên là bà, có một lần bà đã động viên nhắc nhở quân binh mang áo giáp ra chiến trường thì phải mang về chiến thắng.

Về tề gia trị quốc, bà đã tham gia vào việc chiến chinh của hoàng đế. Bà khiêm nhường hoà nhã, vẫn phát huy mãi cái phẩm chất trong sáng tự nhiên".

Một bài biểu khác chúc mừng Hoàng hậu Ngọc Hân có đoạn: “Kính nghĩ hoàng hậu bệ hạ là dòng dõi hoàng tộc, ân đức rạng rỡ. Đọc kinh Thư, giải kinh Dịch làm nền tảng cho việc đẹp đẽ dồi dào, siêng cần lo thành tựu nghiệp cả. Sinh nhà Hạ, hưng nhà Chu, tạo lập nên công nghiệp lớn”.

Theo sử sách, Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân từ  trần ngày mồng 4 tháng 12 năm 1799 tại Huế, khi mới 29 tuổi do căn bệnh hậu bối.

Nữ tướng Bùi Thị Xuân

Theo sách Danh tướng Việt Nam, Bùi Thị Xuân người làng Xuân Hòa, huyện Bình Khê (nay thuộc tỉnh Bình Định), sinh năm nào chưa rõ. Bà là vợ của Thiếu phó Trần Quang Diệu, vì thế người đời vẫn thường gọi là bà Thiếu phó.

Năm 1771, khi Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ dựng cờ khởi nghĩa ở Tây Sơn, Bùi Thị Xuân là một trong những người nhiệt liệt tham gia hưởng ứng đầu tiên. Trong khởi nghĩa Tây Sơn nói riêng và lịch sử quân sự Việt Nam nói chung, Bùi Thị Xuân là một hiện tượng rất đặc biệt. Bà đã góp công lớn trong những chiến thắng lẫy lừng của đội quân áo vải, tiêu biểu là chiến thắng trước 2 vạn quân Xiêm ở trận Rạch Gầm - Xoài Mút (Tiền Giang) vào năm 1785; trận đại phá quân Thanh tại Ngọc Hồi - Đống Đa vào đầu xuân Kỷ Dậu 1789. Từ một phụ nữ bình thường, bà trở thành một danh tướng được đời đời kính trọng.

 

Nữ tướng Bùi Thị Xuân. Ảnh: Internet

Sử sách chép, sau khi vua Quang Trung băng hà, chúa Nguyễn Phúc Ánh được mật báo nội bộ nhà Tây Sơn lục đục, liền tổ chức ngay các cuộc tấn công. Vào tháng 1/1802, Bùi Thị Xuân tham gia trận Trấn Ninh chống lại cuộc phản công của Nguyễn Phúc Ánh. Vì lực lượng ngày một rệu rã, mưu lược, lòng dũng cảm và tài cầm quân của bà cùng với các tướng lĩnh trung thành còn lại không đủ để chống chọi, nên Nguyễn Ánh đã chiếm được Trấn Ninh.

Cùng năm, dọc đường rút quân ra Bắc, bà cùng chồng và con gái bị quân Nguyễn Ánh bắt tại Nghệ An. Tương truyền, chúa Nguyễn đã sai người áp giải bà đến trước mặt rồi hỏi với giọng đắc chí: “Ta và Nguyễn Huệ ai hơn?”. Bà trả lời: “Chúa công ta, tay kiếm tay cờ mà làm nên sự nghiệp. Trong khi nhà người đi cầu viện ngoại bang, làm tan nát cả sơn hà, cũng đều bị chúa công ta đánh cho không còn manh giáp. Đem so với chúa công ta, nhà ngươi chẳng qua là ao trời nước vũng”.

Chúa Nguyễn gằn giọng: “Ngươi có tài sao không giữ nổi ngai vàng cho Cảnh Thịnh?”. Bà đáp: “Nếu có một nữ tướng như ta nữa thì cửa Nhật Lệ không để lạnh. Nhà ngươi khó mà đặt chân được tới đất Bắc Hà...”.

Khi chúa Nguyễn hỏi bà có muốn xin ân xá không, nữ tướng đã nói dõng dạc: “Ta đâu có sợ chết mà phải chịu nhục, hạ mình trước một kẻ tiểu nhân đắc thế?”.

Như vậy, trước khí phách ngất trời của Bùi Thị Xuận, Nguyễn Phúc Ánh đã bắt bà chịu hình phạt thảm khốc nhất. Có thuyết nói bà và con gái bị xử tội lăng trì (tức là xẻo thịt từng miếng cho đến chết), nhưng cũng có thuyết rằng, cả hai mẹ con bà bị đem ra cho voi giày.

Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm

Đoàn Thị Điểm (1705-1748), hiệu là Hồng Hà nữ sĩ, là tác giả tập truyện Truyền kỳ tân phả và dịch giả bản Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn. Nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã viết về bà: “Những câu thơ đẹp và bậc nhất trong thơ Việt Nam đã được viết ra từ ngọn bút của người phụ nữ tài hoa lỗi lạc này”.

 

Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm. Ảnh minh họa

Là người có tài trí và nhan sắc hơn người, Đoàn Thị Điểm nổi tiếng từ hồi trẻ. Đến năm 37 tuổi, bà mới nhận lời làm vợ kế của binh bộ tả thị lang Nguyễn Kiều. Về các sáng tác của bà, Gia phả nhà họ Đoàn chép: “Trong khi nhàn hạ, ngâm nên thiên hay, câu đẹp; kể đã hàng chục, hàng trăm”. Đó là nhắc tới sáng tác thơ khi bà chưa lấy chồng. Sau khi lập gia đình, theo lời kể của ông Nguyễn Kiều trong bài văn tế thì sáng tác vẫn là công việc chính yếu của bà” “Việc bút nghiên, tài lạ hằng chuyên xếp đặt thơ văn thành tập”. Thế nhưng, cho đến nay, số lớn các tác phẩm của bà đều đã bị thất lạc.

Liên quan tới bản dịch Chinh phụ ngâm của bà, theo Bách khoa toàn thư mở, hiện nay chưa khẳng định là bản nào. Nhiều người cho rằng, đó là bản đang lưu hành rộng rãi, nhưng có ý kiến nói bản đó là của Phan Huy Ích, còn bản của nữ sĩ họ Đoàn là khác. Tuy nhiên, GS. Nguyễn Lộc cho rằng: "Một điều có thể khẳng định được là bản dịch Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm là bản dịch đầu tiên của tác phẩm này".

Nguồn: Vĩnh Khang/ Kienthuc

Ảnh trong bài: Nếu không ghi thêm, tất cả các ảnh trong bài này chỉ mang tính minh họa và có bản quyền như nguồn tin gốc đã đưa.

Tin liên quan

 

Booking.com
Tiêu điểm

Thảo luận

Quảng cáo