Luật Séc - Slovakia

Luật dân sự mới của Séc, hợp đồng thừa kế và di lệnh

Cập nhật lúc 09-11-2013 16:00:00 (GMT+1)
Ảnh minh họa (internet)

 

Trong khuôn khổ những sửa đổi về quyền thừa kế trong Bộ luật Dân sự mới (LDS), có lẽ hợp đồng thừa kế và di lệnh là những thay đổi lớn nhất. Đây không phải là những hình thức hoàn toàn mới, bởi vì hệ thống pháp lý của Séc, hay nói đúng hơn, của Tiệp Khắc, đã biết đến hình thức này từ thời bộ Luật Dân sự Tổng hợp, và thế là sau hơn năm mươi năm thuật ngữ này lại trở về với giới luật tại Séc.


Tuy nhiên, chính vì sự ngắt quãng này, cả giới chuyên môn và người ngoài ngành đều lại phải bắt đầu từ đầu. Sửa đổi trong hợp đồng thừa kế và di lệnh, như là sự sửa đổi những hình thức truyền thống trong Luật bảo vệ quyền riêng tư, một cách đáng kể, đã mở ra cho người lập di chúc thêm nhiều khả năng, trước kia vốn rất hạn chế, để sử dụng tài sản của mình. Dưới đây, chúng ta sẽ xem xét kỹ hơn những sửa đổi này. 

Hợp đồng thừa kế

Trước hết, hợp đồng thừa kế là một lý do pháp lý trong việc thừa kế, và bổ sung cho các phương thức xác định việc thừa kế hiện đang có hiệu lực, là thừa kế theo luật pháp và thừa kế qua chúc thư. Luật pháp quy định rõ ràng, thông qua hợp đồng thừa kế, người viết chúc thư gọi đối tác của hợp đồng hoặc là người thứ ba là người thừa kế hay là người được thụ hưởng. Thông qua việc ký kết hợp đồng, người thừa kế theo hợp đồng có quyền được thừa kế tài sản sau khi người lập di chúc qua đời. Quyền này là không thể chuyển đổi, nếu hai bên đối tác của hợp đồng không có những thỏa thuận khác.

Như vậy, với người lập di chúc, hợp đồng thừa kế là một hình thức của di chúc. Tuy nhiên, khác với di chúc, trong trường hợp hợp đồng thừa kế, người lập di chúc cần thu xếp một cách nghiêm túc hơn nhiều. Nếu di chúc là một văn bản pháp lý đơn phương, và có thể thay một di chúc này bằng một di chúc khác với nội dung hoàn toàn khác, thì hợp đồng thừa kế là một văn bản pháp lý song phương và có liên quan tới một trong những nguyên tắc cơ bản trong Luật bảo vệ quyền riêng tư – hợp đồng cần phải được tuân thủ. Vì vậy, khi muốn thay đổi hoặc hủy bỏ một hợp đồng thừa kế đã được ký kết, về nguyên tắc, người lập di chúc sẽ luôn phải được sự đồng ý của người thừa kế theo hợp đồng. Vì thế, ký kết hợp đồng thừa kế một cách dễ dãi và thiếu suy nghĩ sẽ có thể mang lại rắc rối cho cả người lập di chúc, và cả người thừa kế.

Đăc tính của hợp đồng thừa kế

Luật pháp quy định, hợp đồng thừa kế chỉ có thể được ký kết trước sự xác nhận của công chứng, và luôn phải có sự có mặt trực tiếp của cả hai bên, có nghĩa là không thể cử đại diện đến thay mặt.

Thành phần chủ chốt là người lập di chúc và bên thứ hai, chính là người sẽ trở thành người thừa kế theo hợp đồng, hoặc là người thứ ba được mời làm người thừa kế theo hợp đồng. Về nguyên tắc, người lập hợp đồng thừa kế phải là  người đủ tuổi thành niên và có đủ tư cách công dân. Khi người lập di chúc chưa đủ tư cách công dân, hợp đồng thừa kế chỉ có thể được ký kết khi được người giám hộ của anh ta đồng ý. Hợp đồng thừa kế sẽ không có hiệu lực khi những điều kiện nói trên không được thỏa mãn.

Đối tượng của hợp đồng thừa kế

Người lập di chúc không được lập hợp đồng thừa kế cho toàn bộ tài sản, mà chỉ có thể cho ba phần tư số tài sản của mình. Một phần tư số tài sản còn lại có thể được giải quyết cho người thừa kế theo hợp đồng thông qua di chúc, nhưng ngay cả trong trường hợp này cũng không được bỏ qua người thừa kế đương nhiên.

Về cơ bản, người lập di chúc có thể dùng hợp đồng thừa kế để giải quyết tất cả mọi phần tài sản của mình. Theo cùng một điều kiện giống nhau, các khoản nợ được chuyển sang cho người thừa kế theo hợp đồng, cũng như người thừa kế theo chúc thư, hoặc theo luật pháp. Sau khi ký kết hợp đồng thừa kế, người lập di chúc vẫn được toàn quyền sử dụng tài sản của mình. Tuy nhiên, người thừa kế theo hợp đồng có thể tính đến trường hợp hợp đồng thừa kế không được thực thi vì tử vong hoặc trong trường hợp hợp đồng tặng quà, vốn thường là một bộ phận không thể tương thích với hợp đồng thừa kế đã được ký kết trước đó.

Mặc dù Bộ Luật Dân sự mới (LDS) không chỉ định rõ, nhưng hợp đồng thừa kế có thể được ký kết như là một hợp đồng cho không, và đồng thời cũng có thể là một hợp đồng phải mất tiền.

Di lệnh

Thông qua di lệnh, người lập di chúc yêu cầu một cá nhân nhất định trao lại cho người được thụ hưởng một vật thể nào đó. Như vậy, bằng cách gửi di lệnh, người được thụ hưởng có quyền được nhận một di vật nhất định sau khi người lập di chúc mất. Quyền này không trực tiếp vì người lập di chúc, mà vì người thừa kế hoặc người thụ hưởng. Di lệnh liên quan đến các vật thể bất động sản – di vật, một quy luật bất thành văn là người lập di chúc chỉ gửi di lệnh cho người mà di vật đó sẽ mang lại những mối lợi nhất định.

Một cách hệ thống và chính xác, di lệnh được xếp vào danh mục quyền thừa kế, tuy nhiên đó không phải là thừa kế theo đúng nghĩa của nó và không thể coi người được thụ hưởng là người thừa kế. Trường hợp di lệnh, trước hết là không dẫn đến việc thừa kế toàn phần và cùng với di lệnh, những khoản nợ của người quá cố không bị chuyển sang người được thụ hưởng. Tuy nhiên Bộ luật Dân sự hiện hành vẫn cho phép người lập di chúc giải quyết một số đồ vật nhất định trong di sản thông qua di chúc, nhưng cùng với số đồ vật đó, một phần không nhỏ các khoản nợ cũng bị chuyển sang theo. Vì phần đông dân chúng không phân biệt được di lệnh và thừa kế, nhiều khi người lập di chúc cũng phải ngạc nhiên bởi theo những sửa đổi luật pháp hiện nay, không thể để lại một số đồ vật mà không bị kèm theo nợ. Có thể thấy rõ, vì không dẫn đến việc thừa kế tài sản toàn phần, di lệnh sẽ nhanh chóng trở thành một yếu tố khá phổ biến trong thực tế.

Lập di lệnh

Di lệnh không phải là văn bản độc lập và chỉ có thể xác lập như một bộ phận của di chúc, phụ lục hoặc hợp đồng thừa kế. Vì vậy hình thức của di lệnh sẽ tuân theo hình thức của các văn bản chính này. Điều này áp dụng cho cả  những điều kiện phù hợp cho người viết di chúc lập di lệnh.

Bộ Luật Dân sự mới chấp nhận khả năng lập di lệnh cấp hai, qua đó người lập di chúc yêu cầu người thụ hưởng đảm nhiệm một di lệnh khác, trong đó trị giá của di lệnh thứ hai có thể lớn hơn trị giá của di lệnh đầu tiên.

Có thể khước từ di lệnh đã được ban ra, nhưng dĩ nhiên phương thức khước từ này phụ thuộc vào phương thức mà  di lệnh đã được lập ra. Tuy nhiên, luật pháp có qui định những giả định có thể bị bác bỏ trong việc khước từ di lệnh, liên quan chặt chẽ với một thực tế là, đối tượng của di lệnh là một vật thể nhất định đã được xác định một cách cụ thể. Ví dụ như trong trường hợp, khi người lập di chúc phá hỏng hoặc liên tục lấy cắp đối tượng của di lệnh.

Khi người lập di chúc không chỉ định cụ thể ai trong số những người thừa kế phải thực hiện di lệnh, tất cả những người được thừa kế đều phải thực hiện di lệnh theo tỉ lệ các phần thừa kế của họ.

Đối tượng của di lệnh

Đối tượng của di lệnh có thể là bất kỳ phần nào trong số tài sản của người lập di chúc. Bộ Luật Dân sự mới phân loại rõ ràng 3 loại di lệnh, đó là di lệnh theo chủng loại, di lệnh cho những vật cụ thể và di lệnh tìm kiếm. Luật pháp chấp nhận cả việc lập di lệnh cho di vật không nằm trong số tài sản của người lập di chúc. Nếu trong trường hợp đó di lệnh chỉ qui định chủng loại của di vật, và nếu người lập di chúc không qui định rõ, rằng di vật phải được lấy từ tài sản của người lập di chúc, người thi hành di lệnh có nghĩa vụ phải kiếm cho được di vật. Trong trường hợp di lệnh được lập cho một di vật cụ thể, không nằm trong tài sản của người lập di chúc, người lập di chúc phải xác định rõ, rằng di vật đó phải được mua về. Người thi hành di lệnh phải tìm cách mua vật đó, nếu không mua được, sẽ phải trả cho người thụ hưởng một khoản tiền tương đương.
Một nguyên tắc quan trọng là người lập di chúc có thể dùng di lệnh phân chia tài sản nhiều nhất tới mức sao cho mỗi người thừa kế phải được ít nhất là một phần tư số tài sản mà họ được nhận nếu không có di lệnh. Người lập di chúc vượt quá giới hạn này không có nghĩa là di lệnh không có hiệu lực. Người được thừa kế có quyền hạn chế di lệnh theo đúng tỉ lệ. Nếu không hạn chế, tài sản thừa kế có thể bị di lệnh đè nặng đến mức làm tài sản đó gần như kiệt quệ, người thừa kế khi đó chỉ có quyền được hoàn lại những chi phí đã chi trả cho việc thừa hành di lệnh và những thù lao thỏa đáng. Luật pháp tính đến cả trường hợp, khi tài sản còn lại không đủ cho việc hoàn lại chi phí và thù lao. Trong trường hợp đó những người thụ hưởng sẽ phải thanh toán vừa mức với trị giá của di lệnh mà họ nhận được và người thừa kế có quyền giữ lại đối tượng của di lệnh để bảo đảm.

Hoàn thành di lệnh

Như đã nói ở trên, thông qua việc thi hành di lệnh, người được thụ hưởng chỉ có quyền nhận được di vật sau khi người lập di chúc qua đời. Khi người lập di chúc vẫn còn sống quyền này không thể chuyển nhượng và không thể mua hoặc đòi. Như vậy quyền sở hữu với đối tượng của di lệnh sẽ nảy sinh với người được thủ hưởng chính bởi sự ra đi của người lập di chúc, nhưng người lập di chúc cũng có thể quy định một thời điểm muộn hơn. Về nguyên tắc, di lệnh có thời hạn một năm từ ngày mất của người lập di chúc, nhưng trong trường hợp di vật là những vật dụng cụ thể, hoặc di lệnh được dùng cho các mục đích từ thiện hay những hoạt động phúc lợi công cộng, người được thụ hưởng có thể yêu cầu di lệnh được thi hành ngay.

Phần kết

Hợp đồng thừa kế và di lệnh chắc chắn đang mang lại cho quyền thừa kế tại Séc những cơ hội mới, cả hai hình thức này sẽ được sử dụng nhiều trong thực tế. Có thể nói, phù hợp với tinh thần của những thay đổi trong luật bảo vệ quyền riêng tư, cả hai hình thức này đều yêu cầu các chủ thể của chúng phải tỉnh táo.

Nguồn: Aktuálně
Người dịch: Thanh Mai (vietinfo.eu)

 

Booking.com
Tiêu điểm

Đọc nhiều

Thảo luận

Quảng cáo