Khoa học công nghệ

Kỷ niệm 100 năm chuột đồng hành cùng nhà khoa học

Cập nhật lúc 29-03-2009 20:45:39 (GMT+1)
Chuột được sử dụng nhiều trong phòng thí nghiệm vì có cơ chế sinh học giống người, dễ nuôi và giá rẻ

 

Năm 2009, toàn thế giới kỷ niệm 100 năm ngày ra đời của chuột thí nghiệm. Tuy nhiên điều này không chính xác. Từ thế kỷ 19, các nhà nghiên cứu Sinh lý học và Vi sinh học đã huy động những chú chuột vào công việc của mình.


Từ thế kỷ 19, Robert Koch dùng chuột để phát hiện ra vi trùng bệnh than. Vào đầu thế kỷ 20, Paul Erlich đã tiến hành hàng trăm thí nghiệm chuyển khối u từ con chuột này sang con chuột khác.

Các thực nghiệm khoa học luôn luôn đòi hỏi phải tiến hành song song trên hai đối tượng giống hệt nhau về mặt di truyền, trong đó một đối tượng chỉ để đối chứng. Những sinh vật – dù là thực vật hay động vật - phải hoàn toàn đồng nhất về mặt di truyền mới có thể dùng được trong các thí nghiệm. Các nhà khoa học chỉ được sử dụng trong các thí nghiệm những con vật tự mình nuôi hoặc phối giống nhiều thế hệ để thu được những con vật giồng hệt nhau về tính di truyền.

Thế hệ những con chuột đồng nhất về mặt di truyền đầu tiên ra đời năm 1909 nhờ công lao của nhà bác hoc Clarence Cook Little, Trường ĐH Harvard.

Chuột vốn là loài dễ sống. Chúng ăn gì cũng được nên rất dễ nuôi. Chúng lớn nhanh, dễ sinh sản và kích thước nhỏ. Bởi vậy, chúng là mô hình rất tốt để nghiên cứu những quá trình sinh học của con người. Khỉ và lợn giống với người (về hệ gen) hơn chuột nhưng rất khó đưa vào phòng thí nghiệm. Đó là lý do vì sao hàng triệu con chuột được nuôi dưỡng trong hàng vạn phòng thí nghiệm trên toàn thế giới.

Clarence Little đa thành lập Phòng thí nghiệm Jackson vào năm 1929 tại Bar Harbor, bang Maine, Hoa Kỳ. Nhiệm vụ của Phòng thí nghiệm là khám phá ra cơ sở di truyền nhằm mục đích phòng và chữa các bệnh tật cho con người, nghiên cứu và đào tạo các chuyên gia y sinh học.

Phòng thí nghiệm này cũng là địa điểm lưu giữ 4.000 dòng chuột đã xác định về mặt di truyền, là kho tàng trữ cơ sở dữ liệu về bản đồ gen các loài chuột cũng như là nơi thường xuyên tổ chức các hội nghị, hội thảo về các bộ môn trong di truyền học, nơi đào tạo các nhà khoa học chuyên ngành.

Tiến sĩ George Snell, một nhà khoa học tại Phòng thí nghiệm Jackson đã phát hiện ra các gen phức quan trọng, tương hợp về tính huyết học (histocompability), một phát minh bảo đảm cho những ca ghép tạng thành công. Phát minh có ý nghĩa to lớn ấy đã mang lại cho ông giải Nobel năm 1980.

Chuột được dùng rộng rãi trong việc nghiên cứu các bệnh ung thư và miễn dịch cũng như trong ngành cấy ghép các cơ quan nội tạng và nhiều lĩnh vực khác của y học hiện đại. Các nhà tâm lý học và tâm sinh lý học cũng dùng chuột thí nghiệm để nghiên cứu cơ chế hoạt động của não bộ và sự định hướng.

Biết bao nhiêu phát minh lớn, đặt dấu mốc trong sự phát triển một lĩnh vực khoa học đã đạt được nhở công lao của những chú chuột thí nghiệm. Chẳng hạn năm 1981, Martin Evans đã dùng chuột để nuôi cấy tế bào gốc của bào thai.

Nhiều dòng chuột đã ra đời tại các phòng thí nghiệm thế giới vì mục đích khoa học. Một trong những loài chuột nổi tiếng nhất là loài chuột dòng BALB/c, loài chuột bạch tạng do Halssey J. Bagg tại bệnh viện Memorial, dùng trong nghiên cứu Miễn dịch học và Ung thư học..

Xung quanh ngành công nghiệp chuột thí nghiệm mọc lên nhiều ngành vệ tinh. Đó là ngành sản xuất thức ăn cho chuột, ngành làm những chiếc vòng quay để chuột trèo lên giải trí, ngành thiết kế những mê cung để chuột rèn luyện trí khôn, ngành chế tạo những thiết bị chụp X quang, chụp cắt lớp … dành riêng cho chuột.

Nhiều tượng đài kỷ niệm công lao của chuột mọc lên trên toàn thế giới. Tại CHLB Nga, bạn có thể tìm thấy một tượng đài như thế tại Thành phố Zadonsk, thuộc Lipesk.

Theo Pravda.ru

Ảnh trong bài: Nếu không ghi thêm, tất cả các ảnh trong bài này chỉ mang tính minh họa và có bản quyền như nguồn tin gốc đã đưa.

Tin liên quan

 

Tiêu điểm

Đọc nhiều

Thảo luận

Quảng cáo