Góc Bạn Đọc

Việt kiều Ba Lan nhớ về ngày 17-2-1979: Ngày mai anh lên đường…

Cập nhật lúc 17-02-2014 16:00:50 (GMT+1)

 

Hồi ức của một cựu chiến binh nhân kỷ niệm 35 năm chiến tranh biên giới Việt Trung (17-02-1979_17-02-2014).

Cứ mỗi dịp xuân đến, cả nước kỉ niệm ngày 17/02, ngày Trung Quốc xua quân xâm lược trên toàn tuyến biên giới phía bắc là bài hát Ngày mai anh lên đường lại văng vẳng trong tai, kéo tôi trở lại với kỉ niệm một thời đau thương nhưng rất đỗi hào hùng của dân tộc.


 Tôi còn nhớ hôm đó cả nhà tôi đang quây quần trong bữa ăn sáng đạm bạc, bỗng loa truyền thanh vang lên tiếng đanh, sắc, gọn của phát thanh viên Tuyết Mai: “Thông cáo đặc biệt của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội và Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Năm giờ sáng hôm nay ngày thứ bảy 17/02/1979 Trung Quốc đã bất ngờ xua sáu mươi vạn quân, mở cuộc tấn công xâm lược nước ta trên toàn tuyến biên giới phía bắc…” 

Tôi nghẹn đắng lòng, bàng hoàng không tin điều đó là sự thật mặc dù đã biết quan hệ hai nước xấu đi nhanh chóng trước đó. Cả nước sục sôi bước vào một cuộc chiến đấu mới, cuộc chiến của lòng tự trọng dân tộc, cuộc chiến đấu của lòng yêu nước, cuộc chiến đấu bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ. Trường đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội của tôi được lệnh thành lập một trung đoàn sinh viên mang tên Nguyễn Huệ. Được lệnh hành quân gấp lên tỉnh Hà Bắc, trung đoàn Nguyễn Huệ chúng tôi cùng các trung đoàn sinh viên các trường đại học và cơ quan dân, chính, đảng khác đào giao thông hào trên các triền đồi để lập nên hệ thống phòng thủ Sông Cầu bên dòng sông của liền anh liền chị quan họ. Sau một tháng, phòng tuyến Sông Cầu hoàn thành. Sông Cầu, gần một nghìn năm trước Lý Thường Kiệt đã ngạo nghễ đọc bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta trước quân xâm lược nhà Tống: “Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư…”.

Sông Cầu, gần một nghìn năm sau, hệ thống phòng thủ như những con lươn, con rắn đỏ quạch bò nhằng nhịt trên các triền đồi bên hữu ngạn sẵn sàng ngăn bước chân quân xâm lược Trung Quốc vào thủ đô Hà Nội.

Một năm sau đó, khi đã tốt nghiệp đại học, tôi nhận được lệnh tổng động viên. Nói không hề lên gân, lúc đó tuổi trẻ chúng tôi sục sôi tinh thần chống giặc ngoại xâm. Lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc được đánh thức khiến chúng tôi không còn biết đến sợ chết. Nhiều thanh niên, sinh viên trong đó có tôi đã từng trích máu viết huyết tâm thư xin gia nhập bộ đội. Tôi được biên chế vào đại đội một, tiểu đoàn một, trung đoàn 786, sư đoàn 321, Quân khu Thủ đô để huấn luyện trước khi đưa lên biên giới.  

 

Ba tháng huấn luyện tân binh là quãng thời gian tôi không thể quên. Ngày đó trải qua các cuộc chiến tranh liên miên, hết với Mỹ, đang với Campuchia và bắt đầu với Trung Quốc, nước ta nghèo lắm, quân đội ta cũng chịu chung số phận với dân tộc nên cũng nghèo lắm, thậm chí còn đói ăn nữa. Những bữa ăn của chúng tôi chỉ là hai lưng bát cơm, hoặc một bát cơm với một cái “nắp hầm” là cục bột mì nặn dẹt y như nắp hầm tăng-xê luộc lên. Thức ăn thì đến rau còn thiếu nói gì đến thịt cá. Nước chấm là gạo rang cháy hòa với muối… Các công thức ăn của bọn lính chúng tôi thời đó là đầy – vơi – đầy hoặc nhanh – nhanh – chậm, có thế mới không bị đói. Mỗi bữa cơm chúng tôi chỉ ăn vỏn vẹn trong vòng bốn phút. Không phải không có thời gian mà vì nếu ăn chậm sẽ đói nên chúng tôi phải đua nhau ăn thật nhanh. 

Tôi còn nhớ, hồi đó lính được phát mỗi năm hai bộ quần áo may bằng thứ vải kaki Dệt Vĩnh Phú hay Dệt Nam Định bở bùng bục, mặc chỉ một năm là rách như tổ đỉa. Thế mà lính vẫn phải đem quần áo đi bán để có tiền ăn thêm cho đỡ đói. Thời bấy giờ ở các tỉnh phía bắc, toàn dân mặc quần áo lính nên bán chác trao đổi quân trang rất dễ dàng. Tôi cũng thế, không khác các đồng đội của mình. Tôi thường xuyên chỉ có hai bộ quần áo, còn lại vừa lĩnh được quân trang, mỗi lần về phép là tôi mang ra đường Nam Bộ (phố Lê Duẩn bây giờ) Hà Nội để bán. Thời đó nghiện thuốc lá, không có tiền mua, nên nhiều lúc tôi phải chuyển sang hút thuốc lào. Phải công nhận là lính chúng tôi rất thương nhau. Một điếu thuốc có thể chuyền tay, năm sáu đứa hút chung. Hút đến bỏng tay, chúng tôi bảo nhau vứt mẩu thuốc hút dở vào góc nhà. Khi hết thuốc, lên cơn thèm vật vã chúng tôi tìm lại đầu mẩu, xé ra cho vào giấy báo cuốn lại để hút, khai mù. Đói thế, khổ thế nhưng anh em chúng tôi đứa nào đứa nấy đều cường tráng, khỏe mạnh, chắc do chế độ luyện tập cộng thêm sức trẻ.

 

Trước khi vào bộ đội, tôi không nghĩ trai thành phố như mình có thể gánh một hơi hàng trăm thùng nước đổ đầy bể, cuốc một buổi được hai sào vườn. Khi đào ao thả cá giúp dân, tôi vác được những viên đất sét to bằng thùng lương khô, chạy băng băng. Suốt ngày suốt đêm, lúc nào chúng tôi phải thường trực tư thế sẵn sàng chiến đấu. Hết báo động ngày, lại đến báo động đêm. Hễ lúc nào nghe tiếng còi của trung đội trưởng, đại đội trưởng, bọn lính chúng tôi phải tập hợp đội ngũ được ngay. Lo bị kỉ luật vì không kịp chạy vào đội hình mỗi khi báo động, tôi phải để nguyên cả bộ quần áo trên người thậm chí không cả tháo giày trong lúc ngủ. Đang đêm nghe lệnh báo động, chúng tôi phải khẩn trương lao ra sân tập hợp rồi hành quân đi bộ cả chục kilomet. Gặp gì vượt nấy, không được rẽ, không được lùi. Có những lần giữa đêm đông rét căm căm mươi, mười hai độ, trên đường đi đại đội trưởng bắt phải lội qua ao. Nhiều lính ngần ngừ, trong đó có tôi. Nhưng khi nghe lệnh phạt kỉ luật bị phơi nắng giữa trưa hoặc cuốc vài sào vườn, chúng tôi cắn răng ào cả xuống. Thế mà chẳng đứa nào bị làm sao, ho cũng không, cảm cũng không. Phải công nhận rằng được rèn luyện, lính ta tuy đói ăn nhưng rất khỏe và kiên cường. 

Chế độ tập cực kì vất vả nên bọn lính chúng tôi rất thích được sinh hoạt chính trị vào ban đêm trên sân kho hợp tác xã. Những lúc đó ngoài việc ngồi nghe chính trị viên đại đội phổ biến nhiệm vụ, lên dây cót tinh thần và quán triệt tư tưởng, chúng tôi được ngồi theo đội ngũ hát tập thể các bài hát truyền thống của quân đội như Tiến bước dưới quân kì, Vì nhân dân quên mình… 

Tôi vẫn còn nhớ như in khi hát bài Vì nhân dân quên mình, đến câu “Được dân mến, được dân tin muôn phần” chúng tôi đồng thanh hô “phần thì phần”, hoặc hát đến câu “Toàn dân ấm, toàn dân no, được học hành” chúng tôi lại đồng thanh hô “hành thì hành”. Chỉ huy không thể phạt cùng lúc từng đó con người nên chỉ biết cười theo méo mó. Nhưng vui nhất vẫn là sau khi kết thúc buổi học chính trị, bọn lính chúng tôi quây quần bên nhau dưới ánh trăng. Một đứa vừa đập tay vào hộp gỗ theo nhịp, vừa gảy đàn ghi ta, đệm cho cả đám lính hát những bài tình ca lãng mạn thời bấy giờ như Chiều biên giới, Ngày mai anh lên đường… 

Cả trung đoàn huấn luyện của chúng tôi toàn lính người Hà Nội nên bài hát „Ngày mai anh lên đường“ được chúng tôi hát đi hát lại nhiều nhất vào tất cả các dịp có thể. Vì thế bài hát đó đã đi vào lòng những người lính thủ đô chúng tôi thời chiến tranh chống quân Trung Quốc xâm lược như một kí ức không thể nào quên. Bài hát „Ngày mai anh lên đường“ thời bấy giờ có vị trí đặc biệt không chỉ với những người lính chiến nơi tiền tuyến mà còn với nhiều cô gái hâu phương, một trong số đó là nữ bí thư chi đoàn thanh niên nơi chúng tôi đóng quân.

Trong các buổi giao lưu giữa bộ đội và đoàn thanh niên địa phương, cô thôn nữ duyên dáng, có giọng hát mượt mà đó thường hát bài „Ngày mai anh lên đường“ tặng những người lính đại đội tôi, nhất là tặng cho người yêu chính là đại đội phó của tôi. Sau này khi đã giải ngũ, qua một người đồng đội cũ, tôi được biết người yêu của cô ấy đã hi sinh trong trận đánh giành lại một điểm cao tại mặt trận Vị Xuyên, Hà Giang năm 1984.

Sau thời gian huấn luyện, cả trung đoàn chúng tôi được chở lên biên giới biên chế vào các đơn vị chiến đấu. Có lẽ vì tôi đã tốt nghiệp đại học lại là dân thống kê nên được điều về làm quân lực cho trung đoàn bộ, rồi quân khu bộ. Tôi không được trực tiếp tham gia trận đánh nào. Sau này và cho mãi đến bây giờ tôi chưa có dịp được gặp lại những người đồng đội năm xưa của mình, nên ai còn, ai mất tôi không được biết.

Tôi xin kính cẩn nghiêng mình trước vong linh những người lính chiến đấu cho Tổ quốc Việt Nam, dù là đồng đội của tôi hay không.

Năm 1988, tôi lên đường đi du học tại Ba Lan khi cuộc chiến tranh biên giới phía bắc kéo dài 10 năm (1979 – 1989) còn chưa kết thúc. Đến nay tôi vẫn giữ quốc tịch Việt Nam và tên tôi trong sổ của quận đội Ba Đình, Bộ chỉ huy quân sự thành phố Hà Nội ngày ấy có lẽ vẫn còn. Dù chỉ còn trong danh sách dự bị động viên, nhưng tôi vẫn luôn coi mình như một người lính của đất nước Việt Nam trước họa xâm lăng của kẻ thù.

Tác giả là doanh nhân hiện đang sinh sống tại Ba Lan.

Nguồn: Trần Quốc Quân/ FB

  • #5 HAI LÚA: CẢM PHỤC

    18-02-2014 20:50

    Tôi không vinh dự được đứng trong quân ngũ ,nhưng tôi cảm phục các anh và nhất là những người đã ngã xuống cho tổ quốc.Các anh hãy đễ tấm gương này soi mãi trong cuộc sống của chúng tôi,các anh hãy ngày càng phát huy chất lính vào trong cuộc sống và nhất là nền kinh tế đang sôi động như bây giờ.
    Hãy đem chất lính để an bình trong mọi nơi mọi chỗ.
  • #4 Người Ba Lan: Dưới sự chỉ đạo của đảng .

    18-02-2014 17:13

    Hồi trước Vua Quang Trung hông có đảng dẫn dắt soi đường mà Sầm Nghi Đống phải thắt cổ tự tử.

    Nếu có đảng chỉ đạo chắc là dân ta ra Thăng Long nhảy đầm hết rồi.
  • #3 cựu chiên binh : chiến tranh

    18-02-2014 12:17

    tôi cũng đã từng là lính của trung đoàn 38 f2 quânkhu5.tham gia mật trận 479 phối thuộc với quân đoàn 4.chiến đấu ở mặt trận cămfuchia. 7 năm cũng không phải là dài nhưng cũng góp phần nhỏ và xương máu vào sự nghiệp giải phóng và bảo vệ tổ quốc. không phải chỉ có liệt sĩ mới có công với tổ quốc. nhưng người may mắn sống sót cũng có nhiều công trạng. nhưng chúng tôi không đòi hổi gì cả.chỉ mong sao đất nước hoà bình mai mãi. để con cháu tôi đưọc hưởng hạnh phúc trong hoà binh. mặc dù hiện nay đất nưóc có nhiều tham nhũng.nhưng không phải là tất cả.không ai được lấy sự kiện tham nhũng để chống phá nền hoà bình. tượng đài lý thái tổ không phải là nơi để làm như vậy. trước đây đất nước còn nghèo sự bù đắp cho gia đình liệt sĩ không có gì nay đã làm rất tốt. đã là ngưòi lính thì dù ở bất cứ hoàn cảnh nào.không được phản bội tổ quốc.mặc dù có những sư kiện làm đau long chúng ta
  • #2 danque: Tiêu đề

    18-02-2014 04:38

    Nước Việt nhỏ bé của chúng ta trời dung rủi thế nào lại nằm cạnh ông Hán khổng lồ lòng đầy tham vọng nên luôn khổ sở vì nạn chiến tranh triền miên. khi nào người Hán hết tham vọng tranh bá thì dân ta mới được yên. chắc không bao giờ.
    Khổ nỗi có thắng trong chiến tranh cũng phải qua xin thuần phục vì là nước nhỏ... bao giờ ta lớn... khó!!!
  • #1 Ký danh: cựu chiến binh

    17-02-2014 17:31

    7 năm trong quân ngũ không phải là dài, nhưng không được vinh dự tham chiến ở biên giới phía tây nam và phía bắc, vì nhập ngũ hơi sớm, 6 năm chiến đấu bên đất bạn Lào.
    Là người lính, tôi cũng xin kính cẩn nghiêng mình trước vong linh những người lính đã chiến đấu cho tổ quốc VN cho dù ở bất cứ trận tuyến nào.
Quy định bình luận
Vietinfo tạo điều kiện cho bạn đọc bày tỏ chính kiến, song không chịu trách nhiệm cho quan điểm bạn đọc nêu trong bình luận của bạn đọc. Quan điểm bạn đọc không nhất thiết đồng nhất với quan điểm của Vietinfo.eu. Khi bình luận tại đây, hãy:
- lịch sự, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau,
- bày tỏ quan điểm tập trung vào chủ đề bài viết,
- không dùng các từ ngữ thô tục, bậy bạ,
- không xâm phạm đến quyền riêng tư cá nhân hay một số cá nhân,
- không tỏ thái độ phân biệt trên bất cứ phương diện nào (dân tộc, màu da, giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp…).
Mọi nội dung không phù hợp với các tôn chỉ trên có thể bị sửa hoặc xóa.
Cách gõ tiếng Việt
Dấu mũ Â, Ê, Ô – gõ 2 lần: AA, EE, OO
Dấu móc Ă, Ơ, Ư – thêm phím W: AW, OW, UW
Dấu huyền – thêm phím F
Dấu sắc – thêm phím S
Dấu hỏi – thêm phím R
Dấu ngã – thêm phím X
Dấu nặng – thêm phím J
Xóa dấu – thêm phím Z

Ví dụ:
Casch gox tieesng Vieejt.
Cách gõ tiếng Việt.

 

Booking.com
Tiêu điểm

Thảo luận

Quảng cáo