Góc Bạn Đọc

Em ơi Ba Lan...(phần 12) - Trở lại thương trường

Cập nhật lúc 22-09-2011 21:09:18 (GMT+1)
Ảnh minh họa

 

 Rong chơi là một cực hình với người luôn tìm niềm vui cuộc sống trong công việc như Nguyên, thế mà nó phải sống vạ vật trong chuỗi ngày vô vị đến gần ba năm. Chỉ còn một cửa để vùi đầu quên sầu, Nguyên lại nghe dư luận xì xào đến tai rằng, câu lạc bộ doanh nghiệp nơi nó làm chủ nhiệm đã biến tướng để trở thành câu lạc bộ quân đội. 


 Họ nói không sai, địa điểm dành cho hội viên doanh nghiệp giao lưu và giải trí dần biến thành nơi thường xuyên lui tới của đám vô công rồi nghề. Thu nhập không được mấy, lại mang tiếng chứa chấp lưu manh, côn đồ. Nguyên chán. Nó đề xuất đóng cửa câu lạc bộ. Sau biến cố đó, lần đầu tiên trong đời, Nguyên thất nghiệp toàn diện và đúng nghĩa.

        Năm 1996, trong Diễn đàn Hợp tác Kinh tế nhân dịp thủ tướng Võ Văn Kiệt sang thăm Ba Lan, Nguyên ngỡ ngàng được biết kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Ba Lan đạt hơn ba trăm triệu đô la/năm. Thời Ba Lan còn xã hội chủ nghĩa, con số này lúc cao nhất chỉ đạt hai mươi triệu đô la. Mới có vài năm chuyển đổi sang kinh tế thị trường, xuất khẩu tiểu ngạch do Việt kiều thực hiện đã gấp hơn chục lần xuất khẩu chính ngạch của nhà nước Việt Nam trước đó.

        Không tin vào con số công bố từ phía chính phủ Việt Nam, Nguyên thân hành thực hiện chuyến khảo sát chợ Sân vận động và mấy kho hàng lớn. Chứng kiến tận mắt cảnh làm ăn buôn bán, hàng ra hàng vào tấp nập, Nguyên choáng ngợp trước sự phát triển vượt bậc của các doanh nghiệp cộng đồng. Biết mình đã lỡ nhiều cơ hội, Nguyên đem nỗi ám ảnh „đánh mất vị thế“ tâm sự với một người bạn, thằng kia cười hô hố: „Cứ chúi đầu vào ba cái trò lăng nhăng, chẳng bao lâu nữa mày sẽ như anh mõ làng chuyên trải chiếu cho các cụ trong Hội Doanh nghiệp“. Có nhẽ thế thật, nguy cơ đó đang đến rất gần nếu Nguyên không tìm cách trở lại thương trường.

        Trước mọi cám dỗ, một khi đã tái nghiện, khó nghị lực nào có thể giúp cưỡng lại được. Nguyên không ngoại lệ. Gần ba năm chuyên tâm việc nhà, xa lánh công việc làm ăn và vùi đầu vào các thú vui tao nhã, những tưởng nó đã tu luyện được ý chí thép trước ma lực đồng tiền. Nhưng sự đời đâu có đơn giản như Nguyên muốn. Nỗi thèm khát danh lợi lại xô đẩy khiến nó một lần nữa sa chân vào bãi lầy tiền – hàng không lối thoát.

        Từ ngày Ba Lan chuyển đổi thể chế, các doanh nghiệp Việt kiều phân hóa thành hai tuyến „đánh hàng“. Một tuyến nhập hàng từ Việt Nam để tiêu thụ trên thị trường nội địa Ba Lan. Một tuyến nhập hàng từ các nước khác như Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc...để vừa tiêu thụ trên thị trường Ba Lan, vừa tái xuất sang các nước thuộc Liên Xô (cũ) và Đông Âu.

        Nhập hàng từ Việt Nam sang Ba Lan là kiểu kinh doanh mang tính đại chúng, ai muốn cũng làm được, chỉ cần có người thân giúp chọn, mua hàng ở Việt Nam và có cơ số tiền không quá lớn. Mỗi lần, mỗi chủ hàng nhỏ lẻ có thể gửi góp từ vài kiện đến vài chục kiện trong cùng một container. Các thủ tục hải quan, vận tải từ đầu vào ở Việt Nam đến đầu ra tại Ba Lan đã có đám dịch vụ chăm lo tận tình từ A đến Z.

        Sau vài năm đánh hàng Việt Nam, một số doanh nghiệp lớn ra đời theo sự vận hành của quy luật tích tụ và tập trung tư bản. Các doanh nghiệp này thiết lập được hệ thống tiêu thụ sâu rộng với nhiều bạn hàng lớn, họ có kinh nghiệm tiếp thị và trên hết họ tạo dựng được uy tín đối với các nhà cung cấp hàng tại Việt Nam để tận dụng được nguồn tín dụng trả chậm. Thời gian mười năm từ 1995 đến 2005, có không ít doanh nghiệp Việt kiều Ba Lan nhập từ Việt Nam mỗi tháng nhiều container hàng may mặc với doanh số lên đến hàng triệu đô la. Nguyên hầu như quen thuộc các tên tuổi nổi đình nổi đám trong lĩnh vực kinh doanh hàng Việt Nam. Phần đông trong số họ khởi nghiệp đi lên từ những mẹt hàng chợ lẻ. Nhiều người mấy năm trước còn là khách hàng nhỏ của Nguyên, vậy mà lúc này họ đã sắm nhà nọ, xe kia. Sao nhãng thương trường chưa đầy ba năm, sự tụt hậu của Nguyên không còn là nguy cơ nữa mà đã trở thành hiện thực.

        Quyết tìm lại hình ảnh „vang bóng một thời“ của chính mình, Nguyên từ bỏ cuộc sống nhàn cư, „xuống núi“ tìm cửa làm ăn. Biết đã lỡ nhịp, không thể len chân tìm được chỗ đứng trên thị trường hàng Việt Nam, Nguyên quyết định chọn cửa nhập hàng Trung Quốc. Nhập hàng từ các nước khác khó làm hơn nhập từ Việt Nam. Công việc này đòi hỏi phải đáp ứng một số điều kiện như khả năng ngôn ngữ đủ để giao dịch với bạn hàng nước ngoài, có quan hệ sâu rộng với doanh nghiệp bản xứ và nhất là trường vốn.

        Ai cũng biết trong kinh doanh, vốn có vai trò cực kỳ quan trọng. Làm giàu không thể chỉ dựa vào sức lao động, bởi khả năng cơ học là hữu hạn. Trong khi vốn có thể giúp tăng năng lực của con người đến vô hạn. Vậy mà đến thời điểm đó, vốn trong tay Nguyên không những đã suy giảm nhiều mà so với thiên hạ lại càng nhỏ nhoi. Muốn làm giàu nhanh phải biết huy động tối đa vốn từ nhiều nguồn: bạn bè, chủ hàng, đối tác, ngân hàng... Tuy nhiên cái gì cũng có tính hai mặt, tín dụng hoặc là đòn bẩy đưa thằng lên làm ông, hoặc là cái bẫy đẩy ông xuống thành thằng. Thôi thúc bởi tham vọng làm giàu nhanh chóng lại thêm không lường hết diễn biến phức tạp của thị trường, Nguyên đã biến mình thành nạn nhân bi thảm của cái bẫy tín dụng dưới chuẩn.

        Nguyên trở lại thương trường đúng vào lúc những chiếc áo giả da Trung Quốc đang ồ ạt xâm nhập thị trường Đông Âu và Liên Xô (cũ). Chiếc áo khoác được may bằng vải dệt kim phủ nhựa tuy chất lượng không cao, nhưng trông gần giống da thật tự nhiên mà giá bán chỉ bằng 1/10. Hàng chục năm dưới thời xã hội chủ nghĩa, được sở hữu một chiếc áo da thú là ước mơ xa xỉ của đại bộ phận dân chúng. Không có điều kiện diện áo da thật, thị trường các nền kinh tế chuyển đổi hào hứng chấp nhận mặt hàng áo giả da cho người tiêu dùng thu nhập thấp. Các doanh nhân người Việt Nam tại Ba Lan, sau đó tại Nga và một số nước khác nhạy bén nắm bắt nhu cầu, đã nhập về hàng nghìn container mặt hàng thời thượng giá rẻ này từ Trung Quốc để cung cấp cho thị trường.

Hàng nghìn container áo giả da Trung Quốc đã tràn ngập thị trường Nga và Đông Âu trong 3 năm 1996-1998. 

        Đang bế tắc về vốn và kinh nghiệm làm hàng, như có sự xếp đặt, Nguyên gặp lại D bạn học cũ, lúc đó đang làm chủ một đường dây lớn đưa áo giả da Trung Quốc vào Nga. Các mẫu áo của D chẳng giống ai, nhưng được cái mốt và trên hết nhằm vào giới nữ trẻ nên bán chạy ào ào như nước lũ cuốn với siêu lợi nhuận. Không muốn cạnh tranh với chính mình trên đất Nga, D tìm cách khai thông sang thị trường Ba Lan và Đông Âu. Đã có bề dày bằng hữu suốt bao nhiêu năm nên Nguyên và D không cần phải rền dứ nhau nhiều. Sau một chầu nhậu ôn cố tri tân, D đề nghị cung cấp hàng cho Nguyên bán độc quyền trên thị trường Ba Lan. Không phải bỏ vốn, không phải marketing, không phải đặt hàng... tất cả những thứ „không phải“ bỗng dưng trời cho ấy gộp cả lại để Nguyên mặc nhiên được hưởng 1/3 lãi. Còn gì hơn thế mà phải đắn đo. Khỏi cần suy nghĩ lâu, Nguyên gật đầu vội vã. Một bản hợp đồng hợp tác xuyên biên giới nhanh chóng được ký kết.

        Đầu tư bốn mươi nghìn USD mua một quầy giao hàng chỉ rộng hơn mười mét vuông trên chợ Sân Vận Động, thuê thêm một lao động giao hàng, một lao động quản lý kho và một lao động phụ trách vận tải, Nguyên đã có trong tay bộ máy bán hàng gọn nhẹ lại hiệu quả. Vụ đông xuân 1996/1997, Nguyên tiêu thụ cho D hơn 15 container áo giả da nữ các loại. Toàn hàng độc lại không có cạnh tranh nên lãi suất đạt tới con số khó tin. Bằng những thứ không phải của mình, vừa mới chân ướt chân ráo trở lại thương trường, Nguyên đã được các bạn hàng tung hô như là hiện tượng của năm. Có ai biết thực chất mối quan hệ bạn hàng giữa nó và D, mọi người đều nghĩ „huyền thoại“ đó do hai bàn tay Nguyên làm nên. Nguyên kệ, hơi đâu mà giải thích cho cả thiên hạ, cứ để ánh hoàng quang đó tỏa sáng cho những toan tính của nó về sau.

        Lóa mắt với những đồng tiền ngày ngày đổ vào két sắt và ngất ngây với thành công quá đỗi dễ dàng, Nguyên ấp ủ trong đầu một toan tính làm ăn lớn với phương châm „tận dụng triệt để thời cơ“. Giấc mơ làm giàu „phát dã như lôi“ khiến lời hịch „Đánh một trận sạch không kình ngạc, đánh hai trận tan tác chim muông“ của Nguyễn Trãi như tiếng kèn xung trận thôi thúc trong Nguyên. Nhưng có ai học được chữ ngờ, câu sấm truyền ấy lại vận ngược vào đời Nguyên như một lời nguyền. Sạch trơn và tan tác là kết cục đau đớn cho Nguyên sau trận đánh mang tính chộp giật ấy.

        Mùa hè năm 1997 Nguyên tiếp cận được nguồn vốn trả chậm từ chủ hàng Trung Quốc do một doanh nghiệp tại Việt Nam bảo lãnh dưới dạng đầu tư chung. Doanh nghiệp Việt Nam có nhiệm vụ tín chấp để lo vốn, đặt hàng tại nhà máy ở Trung Quốc và vận chuyển container đến cảng Hamburg (CHLB Đức). Nguyên đảm nhận việc tiếp thị, lựa chọn mẫu mã, chuyển hàng từ Hamburg về Warszawa, thông quan, tiêu thụ và cuối cùng là chuyển tiền thanh toán cho chủ hàng. Nguyên và doanh nghiệp Việt Nam hợp tác dựa trên phương thức lời ăn, lỗ chịu chia đều 50 – 50.

        Được trải nghiệm qua vụ đông xuân 1996/1997 với hiệu quả không ngờ, Nguyên lơ lửng như người trên mây. Nó hăm hở lao vào chiến dịch mới với tâm trạng phấn khích đầy tự tin. Từ ngày chuyển sang kinh doanh, chưa bao giờ Nguyên được „hậu phương“ hỗ trợ về vốn lớn đến mức không nhìn thấy giới hạn. Giấc mơ vươn vai từ hình hài cậu bé ba tuổi hóa thành Phù Đổng cứ lớn dần từng ngày trong Nguyên. Niềm tin về sự thành công ám ảnh khiến nó như bị quỷ nhập hồn.

        Bỏ qua sự lập trình của Chúa về bài toán số phận, Nguyên một mực chủ quan chỉ nhăm nhăm tính đến một cửa thắng, nó không hề chuẩn bị cho mình cửa thứ hai. Khi tham vọng đã vượt qua ngưỡng tự chủ của đạo đức, Nguyên không còn kiểm soát được ngay cả ý chí của mình. Lúc đó trong đầu nó luôn thường trực phép tính số học giản đơn: sự giàu có được tính bằng giá trị hàng hóa nhân với lãi suất. Nguyên không còn đủ tỉnh táo để thoát ra khỏi phương châm điên rồ „càng đặt nhiều hàng, càng giàu nhanh“

        Công việc đầu tiên cho chiến dịch làm hàng là marketing lựa chọn mẫu áo. Người Việt Nam tại Ba Lan nhập khẩu quần áo từ nhiều nước với giá trị hàng trăm triệu USD/năm, nhưng không ai „dại dột“ đầu tư cho khâu thiết kế. Hầu hết đều nhái mẫu. Nguyên cũng vậy, chẳng thể khác người được. Nửa năm trước vụ làm hàng, ngày ngày nó thả bộ theo dòng người trên đường phố hay trong siêu thị để ngắm thời trang các bà, các cô khoác trên người. Khi định hình được xu hướng về kiểu dáng, mầu sắc, Nguyên lượn các cửa hàng tìm mẫu. Vụ Thu Đông 1997, Nguyên bỏ ra hơn 2000 USD mua hàng chục mẫu áo da thật. Trong số đó nó chọn được 8 mẫu vừa đẹp, vừa đại chúng để gửi sang Trung Quốc đặt hàng.

        Thời bấy giờ đánh hàng „vất vả“ hơn một cuộc dạo chơi. Một mẫu đặt nhiều container, không như bây giờ một container làm nhiều mẫu. Đánh trúng kiểu, trúng vụ lãi cả trăm nghìn đô một container không phải chuyện hiếm. Nghe có vẻ hoang đường nhưng đó là câu chuyện làm ăn hoàn toàn có thật ở Ba Lan vào cuối thế kỷ 20. Bốn mẫu áo giả da nữ, Nguyên đặt mỗi mẫu hai container. Tổng số tám container hàng vụ thu tập kết về Warszawa vào đầu tháng tám. Đến giữa tháng chín vừa bán, vừa giao không còn lấy một chiếc. Nguyên như người nhập đồng không dám tin vào số tiền lãi thu được chỉ trong một tháng rưỡi bán hàng. Thay vì làm tiếp 8 container mẫu nữ vụ đông như kế hoạch ban đầu, Nguyên quyết định nâng lên 32 container.

        Là dân được đào tạo chuyên ngành toán kinh tế nhưng vợ Nguyên không mấy khi quan tâm tới chuyện làm ăn của chồng. Bản tính thị hiền lành chỉ lấy việc chăm lo nhà cửa và chồng con làm niềm vui thú. Hàng ngày chứng kiến những cọc tiền xếp vào đầy két, thị chẳng mảy may rung động. Nhưng như có phép lạ, trước các sự kiện trọng đại sắp xảy ra, sự mẫn cảm của đàn bà thường rất chính xác. Vô tình nghe được câu chuyện của chồng bàn với đối tác trên điện thoại về việc đặt thêm ngoài kế hoạch 24 container, vợ Nguyên hoảng hồn. Đứng trong bếp, thị nói vọng ra buồng khách: „Anh ơi, đừng mạo hiểm thế! Số lượng lớn như vậy, làm sao bán hết được?“. Nguyên đang đà phấn chấn, gắt: „Hôm nay em làm sao thế! Lại muốn bàn đại sự vượt quá tầm nhìn cán chổi“. Vợ Nguyên lúc đó đã ra đến salon, giọng kiên nhẫn nói trong nước mắt: „Liều lĩnh thế, rồi anh sẽ giết cả nhà này cho mà xem. Nghe em, dừng lại đi anh!“. Nguyên sững người, có bao giờ vợ nó dám quả quyết thế này đâu. Như có luồng điện chạy dọc sống lưng, Nguyên thoáng rùng mình nghĩ đến điềm gở được báo trước. Nhưng bản tính hiếu thắng của một thằng đàn ông cộng thêm niềm tin tất thắng lại được khuyến khích bởi lòng tham vô độ, nó phẩy tay, đặt bản hợp đồng vào máy fax. Ngón tay lạnh lùng ấn nút, Nguyên như truyền hiệu lệnh mở toang cánh cửa dẫn xuống địa ngục. Sự nghiệp đánh hàng của nó chính thức khai tử bắt đầu từ đó.

        Có mỗi bài học từ thời đánh áo gió năm 1991, vậy mà Nguyên nhét mãi vào đầu không thấm. Sau lễ Halloween, từ 1/11 các loại áo khoác không đủ dày để chống chọi với gió, với tuyết trong giá rét căm căm dưới 0 độ C gần như dừng hẳn. Đã thế 32 container áo giả da của Nguyên lại về muộn, rải rác từ giữa tháng mười đến hết tháng mười một. Lúc quyết định đặt thêm hàng, Nguyên thoáng nghĩ đến khả năng chậm thời vụ. Nhưng khi lòng tham chiến thắng nỗi sợ hãi, sự biện minh được huy động tối đa như phao cứu sinh. Nguyên trấn an mình bằng lập luận: hàng đang đi ào ào, lãi lại cao, nếu dùng chính sách giá linh hoạt, dù chậm thời vụ vẫn bán được hàng.

        Nhưng sự đời lại không đơn giản thế. Với loại hàng dành cho người ít tiền, họ chỉ mua khi thật cần hoặc thật rẻ. Thiên thời năm đó không thuận, tuyết rơi sớm. Áo giả da đang chạy ầm ầm bỗng khựng lại như đoàn tàu lao dốc bị đạp phanh đột ngột. Vào thời khắc khó khăn đó, Nguyên đã bộc lộ sự non nớt trong việc xử lý giá để đánh tháo hàng. Thay vì gây sốc, kích thích lòng tham người mua bằng cách đại hạ giá 50 – 75% như các công ty siêu quốc gia thường làm vào cuối vụ, Nguyên lại tiếc của, chỉ đánh giá xuống từng 10 -20 % mỗi lần. Sự thiếu quyết đoán khiến hàng của Nguyên luôn chạy đuổi theo hàng thiên hạ ở top sau cùng. Kết quả gần 30 container đắp chiếu trong kho.

        Hàng trăm nghìn chiếc áo giả da trị giá nhiều triệu đô la không hề nhúc nhắc, trong khi mỗi tháng Nguyên phải chạy vạy hàng trăm nghìn đô la vừa trả tiền hàng, vừa trả lãi, vừa trang trải chi phí phát sinh. Hàng không bán được, đào đâu ra số tiền lớn thế? Mỗi khi đến kỳ hạn trả tiền theo hợp đồng, chủ hàng Trung Quốc liên tục gọi điện hối thúc. Là người coi trọng chữ tín như mạng sống, Nguyên mất hẳn sự tỉnh táo vốn có. Thay vì mời đối tác sang chứng kiến kho hàng tồn và xúc tiến đàm phán nhằm kéo dài thời hạn thanh toán, Nguyên lại phạm phải điều tối kỵ trong kinh doanh là vay tiền lãi cao từ bạn bè, đồng nghiệp để trả cho chủ hàng theo đúng kế hoạch.

 

Những chiếc áo giả da như thế này đã làm điên đảo cả thị trường và cả cuộc đời doanh nghiệp của Nguyên

 

        Suốt mười năm lăn lộn trên thương trường, xây dựng được tượng đài lòng tin, đến lúc đó Nguyên chỉ còn nước mài uy tín, nhẫn nhục ngửa tay vay tiền thiên hạ. Lãi suất đâu có ít, thời gian đầu 5%/tháng, sau kì kèo rút xuống còn 3%/tháng. Tận dụng mọi mối quan hệ, Nguyên vay của người này trả cho người kia và trả các khoản chi phí. Dùng mọi cách khéo léo, Nguyên phải ém nhẹm bằng được nỗi khốn cùng bên bờ vực ấy. Chỉ cần hé lộ đôi chút, các chủ nợ đồng loạt đòi tiền, cả nhà nó chỉ còn nước đi ăn mày, chắc gì đã thoát.

        Doanh nhân Nguyên lúc đó trẻ người non dạ, lại thành công quá sớm và được gắn nhiều hư danh trên nền hào quang. Chính những điều phù phiếm ấy khiến Nguyên nhanh chóng rơi vào ảo vọng không „biết mình, biết người“. Lê lết sau cú ngã ngựa thê thảm, khó có cơ gượng dậy, vậy mà nó vẫn gồng mình che chắn thành công trước bàn dân thiên hạ, để tiếp tục tự mãn cho mình như một„anh hùng sa cơ“ .

        Từ những đồng tiền không phải của mình, Nguyên sống sót qua cả mùa đông năm 1997 như có phép lạ. Nó ngắc ngoải như người kiễng chân, chống chọi giữa biển ngập nợ nần. Các khoản vay với lãi mẹ đẻ lãi con cứ lớn dần lên theo thời gian. Đến lúc không còn chịu nổi áp lực, một rung chấn nhỏ đe dọa vỡ òa con đập. Giữa muôn vàn cơn sóng dội lên mỗi lúc một lớn, Nguyên bắt đầu biết sợ. Nó loay hoay tìm cách chống đỡ, nhưng khó khăn chồng lấp khó khăn, tình trạng ngày một bi đát, vô vọng. Đầu Nguyên căng ra như muốn vỡ tung, nó nghĩ đến một nạn „Đại hồng thủy“ sắp diễn ra trong cộng đồng. Nhiều đêm thức trắng, chong mắt ngắm nhìn vợ con ngủ, Nguyên đau đáu nuốt ngược những giọt nước mắt hối lỗi trong nỗi tuyệt vọng.

Trần Quốc Quân - Ba Lan


Ảnh trong bài: Nếu không ghi thêm, tất cả các ảnh trong bài này chỉ mang tính minh họa và có bản quyền như nguồn tin gốc đã đưa.

  • #1 Xuân :

    23-09-2011 05:05

    Phật đã dậy " vĩ đại nhất của đời người là biết đứng lên sau khi ngã " . Tôi thấy Nguyên đã ngã rất nhiều và đã đứng được lên cung rat nhieu, chúc mừng anh !
    Qua các bài viết của anh thay rất hay , nó như ghi lại được sự phát triển của cộng đồng VN o Ba Lan nay . Rất thật và sống động.
    Nhưng chỉ có điều con người ta không phải chi có say mê kiếm tiền va vật lộn với những đợt đánh hàng như đánh bạc, va cả những toan tính kinh khung . Vì tiền không phải là tất cả !
    Nhung van thich doc cac bai cua anh vi rat hay . Xin cam on !
Quy định bình luận
Vietinfo tạo điều kiện cho bạn đọc bày tỏ chính kiến, song không chịu trách nhiệm cho quan điểm bạn đọc nêu trong bình luận của bạn đọc. Quan điểm bạn đọc không nhất thiết đồng nhất với quan điểm của Vietinfo.eu. Khi bình luận tại đây, hãy:
- lịch sự, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau,
- bày tỏ quan điểm tập trung vào chủ đề bài viết,
- không dùng các từ ngữ thô tục, bậy bạ,
- không xâm phạm đến quyền riêng tư cá nhân hay một số cá nhân,
- không tỏ thái độ phân biệt trên bất cứ phương diện nào (dân tộc, màu da, giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp…).
Mọi nội dung không phù hợp với các tôn chỉ trên có thể bị sửa hoặc xóa.
Cách gõ tiếng Việt
Dấu mũ Â, Ê, Ô – gõ 2 lần: AA, EE, OO
Dấu móc Ă, Ơ, Ư – thêm phím W: AW, OW, UW
Dấu huyền – thêm phím F
Dấu sắc – thêm phím S
Dấu hỏi – thêm phím R
Dấu ngã – thêm phím X
Dấu nặng – thêm phím J
Xóa dấu – thêm phím Z

Ví dụ:
Casch gox tieesng Vieejt.
Cách gõ tiếng Việt.

 

Booking.com
Tiêu điểm

Đọc nhiều

Thảo luận

Quảng cáo