Góc Bạn Đọc

Em ơi Ba Lan...(4): Thị trường trung chuyển

Cập nhật lúc 07-03-2011 18:02:23 (GMT+1)
Ga Brest (Liên Xô) cửa tử của những chuyến hàng - vàng

 

Thời kỳ trước năm 1995 hệ thống kinh tế ngầm của người Việt Nam tại Liên Xô gắn bó chặt chẽ với hệ thống kinh tế ngầm của người Việt Nam tại Ba Lan. Lúc đó topten „Soái” Liên Xô chưa thể so được với topten „Soái” Ba Lan cả về tiếng tăm lẫn mức độ giàu có.


> Em ơi Ba Lan...(3): Từ nhãn "Lưu Vong” đến mác "Việt Kiều”
> Em ơi Ba Lan...(2): Một cuộc chuyển đổi
> Em ơi Ba Lan... (1): Ngã rẽ mới của cuộc đời

Từ năm 1985 đến năm 1994 bất kể người Việt Nam nào ở Liên Xô có mối quan hệ họ hàng hay bạn bè thân thiết với những „người đương thời” ở Ba Lan là có „điều kiện cần” cơ bản để làm ăn qui mô lớn và làm giàu nhanh chóng. Phải nói một cách công bằng, người Việt Nam ở Ba Lan không hề giỏi hơn những người đồng hương của mình ở Liên Xô. Thực ra đã là dân nước Việt, tự nhận con rồng cháu tiên đều chui ra từ cái bọc trăm trứng của mẹ Âu Cơ, thế nên tài năng lẫn tính cách của đám con cháu „đồng bào” ấy ở đâu cũng như nhau.

Không phải ngẫu nhiên Ba Lan bỗng dưng trở thành thị trường trung chuyển hàng hóa cho Liên Xô trong thế giới ngầm của người Việt. Thứ nhất, vị trí của Ba Lan nằm ở Trung Âu trên đường nối thị trường Phương Tây với thị trường Liên Xô. Thứ hai, người Ba Lan rất giỏi buôn bán. Thứ ba, người Ba Lan có mạng lưới buôn bán toàn cầu. Theo số liệu thống kê chính thức, có 21 triệu người Ba Lan sống tại 126 nước trên thế giới so với 38,1 triệu người sống trên chính mảnh đất quê hương của họ. Nếu tính về tỉ lệ, người Ba Lan sống ngoài lãnh thổ của mình chỉ sau người Do Thái. Chính từ những lí do đủ cả thiên thời, địa lợi, nhân hòa ấy mà người Việt ở Ba Lan suốt một thời gian dài được làm cầu nối trung chuyển cho thị trường „nước lớn” Liên Xô.

Liên Xô thời đó tuy là cường quốc hàng đầu thế giới nhưng do nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung cao độ, không có tính cạnh tranh nên hàng hóa tiêu dùng đã thiếu thốn trầm trọng lại thấp kém về chất lượng, nghèo nàn về chủng loại, đơn điệu về mẫu mã. Hàng hóa xa xỉ, chất lượng cao tuyệt nhiên vắng bóng trên thị trường. Tuy nhiên nhu cầu về những thứ không được khuyến khích đó trong xã hội Xô Viết vẫn cứ phát sinh, thậm chí không hề ít. Rõ ràng có một nghịch lý trong nền kinh tế chỉ huy phi thị trường: càng cấm càng hiếm, càng hiếm càng đắt và tất nhiên càng đắt lãi suất càng cao. Tóm lại là „đục nước béo cò”.

Thời bấy giờ không ở đâu trên thế giới này việc kinh doanh buôn bán lại có thể tạo ra lợi nhuận cao như „con đường tơ lụa” Ba Lan – Liên Xô. Rất nhiều mặt hàng, rất nhiều vòng quay đạt tỉ suất lợi nhuận lên tới 100%, thậm chí 200%. Lý luận của Mác nhiều chỗ phải xem lại tính đúng đắn nhưng riêng cái đoạn Mác mô tả ý chí làm giàu của các nhà tư sản thì không sai chút nào. Mác viết „nếu tỉ suất lợi nhuận đạt đến 100% nhà tư sản như sôi lên sùng sục, nếu đạt đến 200% nhà tư sản không có việc gì không dám làm và khi đạt tới 300% nhà tư sản sẵn sàng treo cả cổ mình lên”. Nhận định này của Mác rất đúng với việc kinh doanh của người Việt Nam ở Ba Lan và Liên Xô trong thời kì đó. Bao nhiêu khó khăn, bao nhiêu thử thách, bao nhiêu hiểm nguy vẫn không thể ngăn nổi ý chí kiếm tiền của họ trong thời „tích lũy nguyên thủy” này. Từ đây nhiều doanh nhân người Việt được đặt lên bệ phóng để cất cánh, để thành đạt, để ghi danh tên tuổi trong số những người giầu nhất ở Việt Nam hiện nay, như Phạm Nhật Vượng (Tập đoàn Vincom), Đoàn Quốc Việt (Air Mekong), Nguyễn Cảnh Sơn (Euro Window, Me Linh Plaza), nhiều ông chủ ngân hàng TechcomBank, VIBBank, VPBank, OCBBank, GPBank...

Từ năm 1982 du học sinh Việt Nam tại Ba Lan bắt đầu cung cấp cho thị trường Liên Xô một số chủng loại hàng tiêu dùng. Những thứ hàng hoá này chủ yếu được vận chuyển theo con đường „tiểu ngạch” bằng tầu liên vận quốc tế. „Đánh nhỏ” với qui mô vài vali hay vài  thùng carton dưới dạng hành lý theo người có hộ chiếu phổ thông (thẻ xanh). „Đánh lớn” với qui mô hàng chục carton chất đầy cả khoang tàu nằm, coi như hành lý theo khách VIP có hộ chiếu ngoại giao được quyền miễn trừ kiểm soát hải quan (thẻ đỏ). Thời kỳ này những ai thiết lập được mạng lưới vận chuyển hàng hoá bằng hệ thống „thẻ đỏ” người đó có nhiều cơ hội trở thành „Soái”. Danh từ Soái không biết từ đâu ra nhưng ở giai đoạn khốn khó của chủ nghĩa xã hội trước khi sụp đổ có tính hệ thống, Soái là danh hiệu „cao quí” mà dư luận ngưỡng mộ phong tặng cho các doanh nghiệp người Việt Nam ở Đông Âu sở hữu số vốn từ 50 nghìn đô la trở lên. Bây giờ nghe số tiền này nhiều người cười thầm cho là nhỏ nhoi. Nhưng cách đây 25 năm số tiền đó là cả một gia tài lớn không những ở Việt Nam mà còn ở các nước Đông Âu và Liên Xô.

Trong số những hàng hoá cung cấp cho thị trường Liên Xô, mặt hàng chiến lược gọn nhẹ, giá trị cao, lợi nhuận lớn là đồng hồ điện tử hiện số, nhạc chuông. Đường đi của những chiếc đồng hồ điện tử có giá dưới 1USD/chiếc khởi đầu từ Hồng Kông trung tâm hàng giả lớn nhất thế giới, quá cảnh qua Cộng hoà Áo rồi sang Ba Lan, sang Tiệp, sang Hungari. Thời kì chủ nghĩa xã hội chưa sụp đổ ở Đông Âu và Liên Xô, mọi hành vi buôn bán với qui mô lớn không qua thương nghiệp Nhà nước đều bị coi là buôn lậu. Từ Ba Lan đồng hồ điện tử được các „thẻ đỏ” áp tải sang Liên Xô trên những chuyến tầu liên vận quốc tế. Số lượng lên đến hàng chục nghìn chiếc mỗi chuyến.


Huân chương Lê Nin bằng vàng ròng

được định giá 380$/chiếc

VIP „thẻ đỏ” vừa hiếm vừa chi phí cao nên chỉ được tận dụng để áp tải hàng độc như đồng hồ điện tử, vàng, đô la... Còn „thẻ xanh” giấu số lượng nhỏ trong hành lý mang theo người đủ loại từ hàng độc đến quần bò, kính, ví, thắt lưng, đồ mỹ phẩm… Hàng hoá từ Ba Lan chuyển sang Mockva lúc đó thường được đổ tại Dom 5 trên phố Dimitria Ulianova. Đây là toà nhà kí túc xá của nghiên cứu sinh và thực tập sinh nước ngoài thuộc Viện hàn lâm khoa học Liên Xô. Địa điểm thứ hai hay được nhắc đến sau Dom 5 là Thương vụ Việt Nam tại Liên Xô. Đó là toà nhà cao tầng nằm kín đáo trong một khu dân cư cách ga metro Belaruskaya chưa đến một kilomét.

Qui mô, chủng loại và tần suất những chuyến hàng đổ từ Ba Lan sang Liên Xô cứ tăng dần theo năm tháng, tăng dần theo tốc độ suy thoái của nền kinh tế Liên Xô. Lúc đầu là vài vali, vài thùng carton, tiếp đến là cả khoang nằm tầu hỏa, sau nữa là xe tải nhỏ và cuối cùng là xe tir, xe container. Thưở ban đầu chỉ có Dom 5, nhà Thương Vụ sau đó từ năm 1992 trở đi mọc thêm các Dom 5 (mới), Dôm 11, ob Thủy lợi, ob Saliut 1,2,3...

Liên Xô thời kì trước khi tan rã chịu ảnh hưởng nặng nề của lệnh cấm vận công nghệ cao từ các nước Phương Tây. Lúc đó tuy công nghiệp vũ khí và hàng không vũ trụ của Liên Xô chiếm thế thượng phong do được ưu tiên đầu tư, nhưng công nghệ thông tin lại vô cùng lạc hậu. Thời bấy giờ hệ máy tính hiện đại nhất của Liên Xô là cỗ máy tính Minsk 32 cồng kềnh như một nhà máy, tốc độ tính toán thấp. Hệ máy tính này sử dụng thiết bị nhập dữ liệu dựa vào máy đục lỗ trên bìa vừa dễ nhầm lẫn, vừa khó khắc phục lỗi lại vừa tốn nhân công. Đầu những năm 80 sự xuất hiện máy tính cá nhân sử dụng hệ điều hành MS-DOS sau đó là Windows của Microsof khiến cả thế giới lên cơn sốt. Giống như các nước công nghiệp phát triển khác, nhu cầu máy tính cá nhân ở Liên Xô rất lớn nhưng không thể nhập khẩu chính ngạch vì lệnh cấm vận. Nắm bắt nhu cầu thị trường hết sức nhạy bén, các nghiên cứu sinh Việt Nam tại Ba Lan đã triển khai một chiến dịch cung cấp cho Liên Xô những chiếc máy tính cá nhân hệ 286, 386 được lắp ráp tại Ba Lan bằng linh kiện nhập khẩu từ Đài Loan, Nam Triều Tiên, Singapore…

Mỗi chiếc máy tính cá nhân mua tại Ba Lan lúc đó với giá chừng 3000 USD mang sang Liên Xô bán được 5000 USD rồi qui đổi thành vàng để chuyển trở lại Ba Lan. Một chu kì máy tính – vàng – máy tính kéo dài khoảng 2 tuần đem lại lợi nhuận hơn 100% cho người bỏ vốn. Vòng xoáy đầy ma lực này đã lôi cuốn nhiều du học sinh Việt Nam từ cả hai đầu Ba Lan và Liên Xô, khiến cho họ sao nhãng việc học hành để dấn thân vào con đường buôn bán chuyên nghiệp. Máy tính vận chuyển theo lộ trình từ Tây sang Đông lúc đó dựa trên phương tiện duy nhất là tầu hoả. Mỗi „thẻ xanh” áp tải hai bộ máy tính hoàn chỉnh, mỗi „thẻ đỏ” áp tải 16 bộ. Nguồn cung cấp máy tính lúc bấy giờ lấy từ một số doanh nghiệp lắp ráp mới thành lập của người Ba Lan. Lúc đó ở Warszawa có hai thương hiệu máy tính quen thuộc với người Việt, một là Hector nằm trên phố Gwiadzista, hai là Complex nằm trên phố Polaczynska. Trong khi hầu hết mọi người xếp hàng để giành giật nhau từng cái máy tính hiệu Hector thì tay Q bạn Nguyên chỉ từ một mẩu thông tin quảng cáo trên báo lại ung dung độc chiếm máy tính hiệu Complex. Thời gian đầu lúc chưa tham gia vào đường dây „đánh” máy tính sang Liên Xô, Q cưa đứt đục suốt chuyên làm dịch vụ cung cấp máy tính cho nhiều „Soái” và đội quân „du kích đường sắt”. Mỗi máy tính chuyển thẳng từ xưởng lắp ráp đến Ga Tây, xếp lên tàu liên vận quốc tế đi Mockva, Q đút túi 150 USD. Thời gian sau Q nhanh nhạy huy động thêm tiền vốn từ mấy anh cán bộ thương vụ thân quen để „đánh” sang Liên Xô mỗi chuyến cả chục chiếc máy tính.

Rất tình cờ một lần đến nhà Q, Nguyên loá mắt nhìn đống nhẫn, hoa tai, dây chuyền, lắc tay bằng vàng 0,583 đổ đầy có ngọn trên chiếc bàn ăn. Nguyên ngỡ mình như đang trong cơn mơ hóa thân thành chàng Ali Baba lạc chân vào động vàng của bốn mươi tên cướp. Sau bữa đó Q rủ Nguyên ban ngày cùng nó đi lấy máy tính, xếp lên tầu; ban đêm về nhà, hai thằng cần mẫn ngồi cậy từng cái mặt đá quí, dồn thành vốc cho vào toilet giật nước. Đến bây giờ nghĩ lại Nguyên vẫn còn thẫn thờ tiếc, tại sao ngày đó nó không giữ lại những viên đá saphia, rubi rất quí đó. Vàng trang sức tinh xảo với những mặt đá long lanh đủ sắc màu bỗng dưng bị đập bẹp, biến thành những miếng vàng móp méo để bán theo gram cho các nhà „tài phiệt” Do Thái. Trong các loại vàng mà bạn hàng của Nguyên chuyển từ Liên Xô sang, Nguyên khoái nhất được nhận Huân chương Lê Nin. Đó là cả khối vàng nguyên chất được thị trường lúc đó định giá 380 USD/chiếc. Khi đã trở thành „con buôn”, Nguyên dần xa lánh chính trị nên đối với nó Huân chương Lê Nin chẳng có chút nào ý nghĩa về giá trị tinh thần (ở mặt phải) mà chỉ ánh lên trong mắt nó thứ màu vàng tinh khiết mang đầy giá trị vật chất (ở mặt trái). Có lần Nguyên tự đắc nói với Q: - Ở Việt Nam hình như chỉ có ba lãnh tụ sáng giá được tặng phần thưởng cao quí nhất này của nhà nước Liên Xô là Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn và Võ Nguyên Giáp vậy mà tôi với ông chẳng ai biết đến lại được tặng thưởng tới hơn 50 lần. 

Máy tính từ Ba Lan chuyển sang được mang công khai, song việc vận chuyển vàng vốn là hàng quốc cấm theo chiều ngược lại từ Liên Xô lại hết sức khó khăn. Các VIP „thẻ đỏ” được huy động vào công việc đầy nguy hiểm này với số lượng vận chuyển lên đến hàng chục kilogram vàng mỗi chuyến. Một số „thẻ xanh” liều lĩnh cất dấu dưới muôn hình vạn dạng khác nhau nhưng mỗi lần khó vượt quá hai kilogram. Cuối năm 1989 một VIP „thẻ đỏ” người Việt từ Albani vận chuyển vali bên trong chứa 30 kg vàng không may bị phát hiện tại cửa khẩu Brest. Sau vụ này hải quan Liên Xô tăng cường kiểm soát gắt gao việc chuyển lậu vàng sang Ba Lan. Trong khi máy tính vẫn được chuyển đều đặn từ Ba Lan sang Liên Xô nhưng chiều thanh toán ngược lại bằng vàng bị gián đoạn một thời gian. Nguyên ngao ngán vì vàng ùn tắc, vốn cụt, vòng quay ngưng trệ…

Hàng ngày Nguyên thấp thỏm như ngồi trên đống lửa vì toàn bộ thành quả lao động của nó từ ngày sang Ba Lan đã biến thành vàng nằm trong tay đầu dây phía bên kia. Nguyên bàn với Q phải tự mình xuất chinh một chuyến sang Mockva nghiên cứu cách giải toả vàng. Nguyên bay sang bằng máy bay nhưng lại quay về bằng tầu hoả. Đây là một sai lầm khiến Nguyên suýt nữa phải trả giá đắt. Biết rằng việc chuyển vàng về Ba Lan hết sức nguy hiểm nhưng Nguyên vẫn muốn đi để tự mình tìm ra kẽ hở của hải quan Liên Xô. Tại Mockva Nguyên mua một chiếc xe đạp trẻ con và một lò sưởi điện, nó mở ra nhét đầy vàng vào bên trong rồi lắp lại như cũ. Q lại khác, nó mua hai cục giăm bông to, lấy ống tuýp cắm vào rút lõi thịt bên trong ra, nhét đầy vàng vào và đóng vỏ bọc ngoài như cũ rồi cho vào nồi luộc lại.

Ba Lan - Liên Xô

Hai thằng mua vé ngồi hai toa tầu khác nhau. Khi đến cửa khẩu Brest sát biên giới Ba Lan một thằng hải quan Liên Xô kiểm tra vé và hộ chiếu của Nguyên, nó thắc mắc tại sao Nguyên sang bằng máy bay lại về bằng tầu hoả, rõ ràng có điều gì bất thường. Thằng ma mọi này kiểm tra Nguyên rất kĩ càng, nó lật giường, mở đinh vít thành toa tầu, nắn người, lột giầy, lộn bí tất…rồi cuối cùng nó nhìn xoáy vào cái xe đạp và cái lò sưởi của Nguyên với ánh mắt ngờ vực. Nguyên chột dạ nhưng cố giữ nét mặt bình thản. Thằng hải quan không chịu buông tha, nó bảo Nguyên bê cái lò sưởi còn nó vác cái xe đạp xuống tầu đến trạm hải quan đưa vào máy soi. „Cha mẹ ơi! Thế này thì chết con rồi, chuyến này chắc phải ngồi bóc lịch vài năm”. Nguyên vừa lẽo đẽo theo sau thằng kia vừa lẩm bẩm. Lúc Nguyên nhìn thấy cái máy soi hải quan thì một tay ra dáng sếp của phiên trực hất hàm hỏi thằng nhân viên: - Có chuyện gì đấy? Thằng hải quan trả lời: - Tao nghi thằng Việt Nam nó dấu vàng hay đô la trong hai cái vật bằng sắt này nên muốn kiểm tra trên máy soi. Nguyên nghĩ mười phần chắc chết đến chín. Nhưng lạy giời, đúng lúc đó y như có thánh nhân giơ bàn tay ra đỡ khiến nó không bị rơi xuống vực thẳm. Thằng sếp phẩy tay: - Thôi khỏi, tao vừa tắt máy rồi, bây giờ khởi động lại lâu lắm, chậm tàu của nó. Thằng nhân viên nghe vậy có vẻ hậm hực nhưng không dám cãi, nó lại cum cúp vác cái xe đạp cùng Nguyên quay trở lại tầu. Thế là thoát!

Về đến Ga Trung tâm Warszawa Nguyên hỏi Q có bị hải quan Liên Xô „trần” không, Q bảo: - Thằng hải quan bên tao cũng rất tích cực tìm kiếm, nhưng khi sờ đến túi đựng hai cục giăm bông để lẫn với cọng tỏi muối, nó bịt mũi không chịu nổi mùi hôi nên phẩy tay chạy mất. Sau chuyến khảo sát đường tầu hút chết, Nguyên bàn với Q: - Mình dù thoát nhưng là do may mắn, xác suất „chết” cực cao nên không thể bị động trông chờ may rủi. Thôi tôi với ông cứ kiên nhẫn chờ đợi, khi nào  khai thông chắc chắn rồi mới làm tiếp được. Tắc vẫn hoàn tắc.

Gần một tháng chờ đợi trong nỗi tuyệt vọng, bỗng một hôm Nguyên nhận được điện thoại của thằng bạn bán máy tính đầu bên Liên Xô thông báo đã có cửa sáng - vàng có thể chuyển được về…Việt Nam. Nguyên và Q chụm đầu bàn bạc, trong lúc cửa sang Ba Lan vẫn đang bị khép chặt thì cửa về Việt Nam có thể tạo bất ngờ lớn. Thêm nữa vào thời điểm đó lạm phát đang hoành hành dữ dội tại Việt Nam nên vàng vừa dễ bán lại được giá. Nguyên và Q đồng ý với thằng bạn đầu Liên Xô chuyển toàn bộ số vàng đang bị kẹt tại Mockva về Hà Nội do VIP thực hiện qua đường hàng không. Thật bất ngờ số vàng sau khi bán tại Việt Nam được qui đổi thành tiền, sau đó biến thành áo kimono, khăn kim tuyến, áo soa thêu, áo gió…rồi   „đánh” ngược sang Ba Lan theo đường cargo hàng không đã giúp Nguyên vừa thoát vốn vừa đạt lợi nhuận cao. Sau sự kiện này Nguyên quyết định kết thúc chiến dịch „đánh” máy tính sang Liên Xô để chuyển hướng làm ăn với thị trường may mặc Việt Nam. Chiến trường buôn máy tính, máy fax từ Ba Lan sang Liên Xô mặc dù không còn bóng dáng Nguyên nữa nhưng vẫn còn được kéo dài đến tận cuối năm 1991.

Từ đây trong mỗi chuyến về thăm Việt Nam với bao lời hứa hẹn có cánh về những dự án đầu tư tạo ra công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động, Nguyên bỗng dưng lột xác để trở thành „Việt Kiều yêu nước”. Nguyên được đón tiếp nồng nhiệt, Nguyên được trọng vọng mỗi khi đặt chân đến các nhà máy quốc doanh, các công ty xuất nhập khẩu nhà nước, thậm chí trụ sở Ủy ban nhân dân các địa phương, các Bộ, các ngành...Mới có hai năm từ một công chức nghèo không mua nổi một chiếc xe máy để đi làm bây giờ Nguyên đã vinh dự được „đóng vai” một ông chủ „Việt Kiều” xe đưa, xe đón. Oách thật! Nguyên không bao giờ có thể nghĩ được chính sự khốn khó của chủ nghĩa xã hội thế giới lại là viên gạch lót đường đưa đời nó lên hương.

Trần Quốc Quân 

Ảnh trong bài: Nếu không ghi thêm, tất cả các ảnh trong bài này chỉ mang tính minh họa và có bản quyền như nguồn tin gốc đã đưa.

 

Booking.com
Tiêu điểm

Đọc nhiều

Thảo luận

Quảng cáo