Góc Bạn Đọc

Em ơi Ba Lan...(3): Từ nhãn "Lưu Vong” đến mác "Việt Kiều”

Cập nhật lúc 07-03-2011 16:21:46 (GMT+1)
Ga Trung tâm Warszawa (ngầm dưới lòng đất)

 

Kí ức trong Nguyên về Warszawa dưới chính thể cộng sản là một thành phố trống rỗng, xám xịt và không một chút tráng lệ. Warszawa khi đó hầu như không có nhà chọc trời, ngoại trừ một khối kiến trúc nặng nề mang đậm bản sắc Xô Viết là Palac Kultury (Cung văn hóa) tọa lạc ngay tại điểm zero của trung tâm thành phố.


> Em ơi Ba Lan...(2): Một cuộc chuyển đổi
> Em ơi Ba Lan... (1): Ngã rẽ mới của cuộc đời

Palac Kultury trông như bản sao của toà nhà trường đại học Lomonosov ở Mockva. Toà nhà hoành tráng mà thô thiển này được đưa vào hoạt động năm 1955 cao 230 mét gồm 42 tầng với 3288 phòng. Đây là quà tặng của Stalin cho nhân dân Ba Lan sau chiến tranh như một sự sám hối về tội ác của chính ông ta đã gây ra trong vụ thảm sát Katyn và vụ mượn tay Hít Le dìm cuộc khởi nghĩa Warszawa tháng 7 năm 1944 trong biển máu. Tương phản với khối kiến trúc đồ sộ, kém hiệu quả và nặng về hình thức của Palac Kultury là Dworzec Centralny (Nhà ga trung tâm) với kiến trúc xây dựng đơn giản, hiện đại và đầy tính hữu dụng. Dworzec Centralny đưa vào hoạt động năm 1975 có tám làn đường sắt chạy ngầm dưới đất được xây dựng bằng nguồn tiền vay với lãi suất ưu đãi của chính phủ Mỹ từ thời cố Tổng bí thư Gierek. Hệ thống giao thông công cộng của Warszawa lúc đó chủ yếu dựa trên mạng lưới tầu điện và xe buýt. Dù phương tiện cũ kĩ và không đẹp mắt nhưng rất tiện lợi cho việc đi lại. Tuyến tầu điện ngầm đầu tiên đang xây dựng nhưng do thiếu vốn nên vẫn ngổn ngang. Lưu thông trên đường phố chủ yếu là những loại ô tô do Ba Lan sản xuất như maluch, polonez, fiat 126…rất hiếm khi nhìn thấy xe hơi có xuất xứ từ các nước tư bản phát triển.

Họa hoằn lắm Nguyên mới nhìn thấy người Việt Nam lẫn trong các cư dân của thành phố. Những nơi người Việt Nam thường lui tới thời đó chỉ đếm trên đầu ngón tay, vài địa điểm quen thuộc như Nhà ga trung tâm, Chợ trời Skra, Chợ trời Targowa, một số khu kí túc xá trường đại học Tổng hợp, Bách khoa và cuối cùng là Đại sứ quán…

Bắt đầu từ đầu những năm 1980, du học sinh Việt Nam nhất là nghiên cứu sinh mới chập chững bước vào con đường buôn bán. Họ khởi đầu buôn từ chiếc kimono, áo phin thêu tay đến vòng xương, lắc tay và gửi về Việt Nam từ những chiếc máy khâu singer cũ kĩ đến xấp vải tuytsi len. Khởi nguồn qui mô kinh doanh của họ rất nhỏ bé. Họ phải tiết kiệm từng đồng vốn nên phương tiện di chuyển trong thành phố chủ yếu dựa vào các phương tiện công cộng. Ngồi taxi hồi đó là một sự xa xỉ. Di chuyển xa ngoài Warszawa phương tiện duy nhất là tầu hoả. Đi các tuyến địa phương nội địa họ thường lên từ Ga Trung tâm. Đi các tuyến quốc tế vì phải xếp hàng lên tàu nên họ thường lên từ ga gốc cho chắc ăn. Nếu đi Liên Xô lên từ Ga Tây, nếu đi Đức lên từ Ga Đông. Xuống tàu thì tùy, nhà gần ga nào xuống ga đó. Ngày xưa thời Đế quốc La Mã có câu châm ngôn nổi tiếng „mọi con đường đều dẫn đến Roma”, thời kì kinh doanh còn sơ khai, dân nghiên cứu sinh ở Ba Lan cũng có câu châm ngôn „mọi ngả đường buôn lậu đều dẫn đến sân ga”.

Năm Nguyên mới sang Ba Lan, Đại sứ quán Việt Nam là một toà nhà ba tầng rất rộng nằm trong khuôn viên khoảng hơn năm nghìn m2 trên phố Kawalerii. Từ cổng Đại sứ quán ra đến cổng công viên Lazienka đẹp nổi tiếng Warszawa chỉ khoảng hai trăm mét. Ít có Đại sứ quán nước nào ở Warszawa nằm trên vị trí đẹp hơn thế. Nơi đó vừa có rừng, vừa có sông, vừa kín đáo, vừa thơ mộng trong một khung cảnh thiên nhiên yên tĩnh đẹp như một bức tranh. Chỉ  tiếc một điều là toà nhà Đại sứ quán lại được xây đơn điệu, vuông vắn, lát đá màu xám nhạt nên trông buồn tẻ, lạnh lẽo không hợp với nền đẹp như mơ của khung cảnh trữ tình, lãng mạn. Vào những năm khốn khó, cái chốn bồng lai tiên cảnh một phần thiêng liêng của Tổ Quốc ấy có rất ít người Việt Nam „dám” đặt chân đến. Tùy vào hoàn cảnh, mỗi người „ngại” sứ quán theo một kiểu. Thời gian đó giữa cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài với các con dân mà họ có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi ít có sự gần gũi, thân thiện. Thật cần thiết người ta mới đủ „can đảm” để mon men đặt chân đến nơi ấy.

Vào những năm 80 trở về trước, Warszawa có hai cái chợ trời mà người Việt Nam hay đặt chân tới. Một cái là chợ trời Sân vận động Skara chỉ họp mỗi tuần một phiên vào ngày chủ nhật. Cái chợ Skara này hoạt động đúng theo nghĩa chợ trời. Trên là trời (không có mái che) dưới bày đủ các loại đồ cũ. Có lẽ vì nó nằm gần khu kí túc xá của trường đại học Bách khoa trên phố Grojecka và của trường đại học Tổng hợp trên phố Zwirki i Wigury vốn là hai nơi tập trung nhiều du học sinh Việt Nam nên mỗi chủ nhật người Việt Nam thường dạo ra đó để nhìn nhau cho đỡ…nhớ và hi vọng múc được món hàng cũ có thể đánh về Việt Nam kiếm chút lời như máy khâu singer chẳng hạn. Chợ trời Targowa nằm bên kia sông Wisla lại hoạt động cả tuần. Ở chợ này người ta bán các loại hàng mới, hàng giả nhãn mác. Đây chính là đầu mối cung cấp hàng rởm đủ loại cho thị trường „xã hội chủ nghĩa phát triển” Liên Xô. Bây giờ nghĩ lại vừa buồn cười, vừa thương xót cho những người anh em Xô Viết. Các thứ hàng bày  bán ở đây gồm quần bò nhái, đồng hồ điện tử, ví nhựa lồng hình con gái, kính râm thời trang, thắt lưng giả da, đồ mỹ phẩm rẻ tiền...trông y trang đồ chơi trẻ con. Hàng hoá mua ở đây được đóng vào vali hành lý xếp lên tàu hoả liên vận quốc tế để chuyển về phương Đông. Những phi vụ buôn hàng theo người ngồi tàu chỉ như muối bỏ bể, như mưa phùn rải trên vùng đất khát sa mạc có tên gọi „Liên Xô vĩ đại”. Thời bấy giờ hộ chiếu công vụ và hộ chiếu đóng dấu AB của Việt Nam được phép đi lại dễ dàng giữa các nước xã hội chủ nghĩa. Thế nên vào lúc đó có rất nhiều cán bộ đi công tác nước ngoài, đi chuyên gia ở Châu Phi, nhân viên sứ quán ở Đông Âu và Liên Xô tranh thủ quá cảnh sang Ba Lan để gia nhập „Đội du kích đường sắt” chuyên vận chuyển những thứ hàng nhái, hàng dỏm sang Liên Xô bán kiếm lời. 

Trước năm 1990, người Việt Nam tại Ba Lan tương đối thuần khiết với số lượng hạn chế. Hầu hết trong số họ đi du học dưới ba dạng là lưu học sinh, nghiên cứu sinh và thực tập sinh. Lứa du học sinh Việt Nam đầu tiên đặt chân đến Ba Lan vào niên học 1957/1958. Đến niên khoá 1972/1973 số lượng du học sinh Việt Nam tại Ba Lan đạt đến đỉnh cao với hơn 800 người. Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc số lượng du học sinh đến Ba Lan giảm dần. Từ những năm thập kỉ 80, theo Hiệp định hỗ trợ đào tạo được kí kết, hàng năm Ba Lan cấp học bổng đào tạo cho khoảng 50 du học sinh Việt Nam, trong đó lưu học sinh 25 người, nghiên cứu sinh 15 người và thực tập sinh 10 người. Cùng trong thời gian đó ngoại trừ ba nước xã hội chủ nghĩa thân Trung Quốc như Rumani, Nam Tư và Albani, hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa khác ở Đông Âu và Liên Xô đều kí Hiệp định hợp tác lao động với Việt Nam. Trong số đó duy chỉ có Ba Lan và Hungari không nhận lao động người Việt Nam. Chính vì vậy người Việt Nam ở Ba Lan ít hơn rất nhiều lần so với các nước xung quanh như Liên Xô, Đức, Tiệp và Bungari. Thời đó người Việt Nam rất hiếm khi có cơ hội nhìn thấy nhau ở những nơi công cộng nhưng bù lại hầu như họ đều quen biết nhau. Ngoài số du học sinh chiếm phần lớn, số rất ít còn lại là những người trong đội học nghề nuôi ong tại Gdynia và đội học nghề bảo tồn di tích cổ tại Lublin. Mãi đến năm 1989, một công ty tư nhân của Ba Lan mới xin được giấy phép tuyển dụng 160 thợ may nữ từ Việt Nam sang làm việc tại Uniejow ngoại vi thành phố Lodz.

Số lượng người Việt Nam ở Ba Lan đã ít nhưng số người Việt Nam có giấy tờ hợp pháp do nhà nước Ba Lan cấp lại càng hiếm hoi hơn nữa. Chính vì vậy khái niệm Việt Kiều hay Cộng đồng người Việt Nam tại Ba Lan hầu như chưa được thừa nhận. Cư dân Việt Nam đầu tiên định cư ở Ba Lan từ năm 1956 là một bà tên M trước làm diễn viên Đoàn kịch nói Hải Phòng bạn cùng lứa với nữ nghệ sĩ Lê Mai (mẹ của Lê Vân, Lê Khanh, Lê Vy). Năm 1989 khi bà Lê Mai sang thăm bà M ở Warszawa, Nguyên có dịp được gặp hai bà. Bà M lúc đó đã ngoài 50 nhưng trông vẫn còn sắc nét lắm. Bà M lấy chồng là sĩ quan quân đội Ba Lan trong Uỷ ban quốc tế giám sát Hiệp định Giơ Ne Vơ. Năm 1969 một phụ nữ gốc Huế em họ của Nam Phương Hoàng hậu sống ở Sài Gòn tình cờ gặp một chàng trai là phóng viên người Ba Lan trong một hội nghị quốc tế. Câu chuyện tình yêu rất cảm động của họ do chính cô con gái sau này làm Tổng biên tập tạp chí thời trang hàng đầu thế giới Elle tại Ba Lan kể lại trên tạp chí Elle mà Nguyên vô tình được đọc. Khoảng năm 1974 có một phụ nữ tên Đ lấy chồng là sĩ quan Ba Lan trong Uỷ ban quốc tế giám sát Hiệp định Pari. Còn một số phụ nữ Việt Nam khác như chị K ca sĩ đoàn nghệ thuật tỉnh Nghệ Tĩnh, chị H làm việc tại cửa hàng Intershop Tràng Tiền Hà Nội…cưới rồi theo chồng là những chuyên gia Ba Lan công tác tại Việt Nam về Ba Lan sinh sống.  

Trước năm 1980, đặc biệt trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, cũng như ở Liên Xô và các nước Đông Âu khác, du học sinh Việt Nam tại Ba Lan bị cơ quan đại diện ngoại giao và các tổ chức đoàn thể quản lí, giám sát hết sức ngặt nghèo. Hộ chiếu của họ ngay khi đến Ba Lan đã bị thu giữ. Họ bị cấm triệt để chuyện yêu đương trai gái, không được tự do ra phố, đi xem phim ảnh và đến vũ trường...Nếu có việc cần thiết bên ngoài khu vực kí túc xá, trường học phải có cán bộ quản lý đi theo, hoặc phải có ít nhất ba người đi cùng để giám sát lẫn nhau. Thời gian đó Ba Lan được tiếng tự do nhất trong các nước xã hội chủ nghĩa, tuy vậy chế độ qui định về việc quản lý du học sinh của nhà nước Việt Nam ở đâu cũng như nhau. Mặc dù phải chịu sự giám sát chặt chẽ như vậy, vẫn có một số du học sinh „vượt rào” trốn ở lại sau khi tốt nghiệp. Số người không về Việt Nam sau khi tốt nghiệp bị nhà nước và dư luận xã hội lúc đó dán cho cái nhãn đầy tủi nhục là „Lưu Vong”.

Trong khi cuộc sống của những cô con dâu người Việt Nam tương đối ổn định và yên bình, dựa trên đồng lương khá cao của các ông chồng sĩ quan hay chuyên gia thì cuộc sống của những chàng rể người Việt Nam ở Ba Lan lại rất cơ cực. Một mặt họ phải bươn chải làm đủ thứ nghề vất vả thu nhập thấp vừa để tồn tại, vừa nuôi vợ con; một mặt họ phải trốn tránh sự truy nã của sứ quán. Đầu những năm 70, người dân Warszawa lạ lẫm nhìn theo một thanh niên người châu Á nhỏ thó, tóc đen ngồi sau tấm kính chắn gió, lái tầu điện trên những nẻo đường ray của thành phố. Đó là anh V người trong lứa đầu tiên vượt rào lấy vợ Ba Lan. Anh T, anh H, anh Q…hàng ngày chui hầm lò đua sức với những người thợ bản xứ to cao lực lưỡng để cuốc than. Nhiều kĩ sư, cử nhân phải làm việc trên cánh đồng quê vợ như người nông dân thực thụ. Còn rất nhiều những mảnh đời tủi nhục khốn khó khác mà Nguyên được chứng kiến. Một lần Nguyên đang đứng trên sân ga, có một người châu Á mắt xếch tiến lại gần giọng đầy xúc động hỏi: - Thưa, Anh có phải người Việt Nam không ạ? Nguyên nói: - Phải, tôi là người Việt Nam. Lúc đó anh kia xin được cầm tay Nguyên lắc mạnh. Trên đôi gò má khắc khổ của anh, hai hàng lệ ứa ra từ hốc mắt chảy dài. Anh nói trong tiếng nghẹn ngào: - Tôi cũng là người Việt Nam đây, nhưng đã gần hai mươi năm tôi chưa được nghe dù chỉ một câu tiếng Việt. Tôi trốn ở lại lấy vợ Ba Lan, không có một thứ giấy tờ tùy thân do Việt Nam cấp, từ đó tôi sống hoàn toàn cách biệt với những người đồng hương. Tôi ở một vùng hẻo lánh quê vợ  làm nghề đẽo tượng thánh bằng gỗ, bán ở các chợ nhỏ nông thôn. Cơ cực lắm anh ạ!

Những người Việt nam ở lại lấy vợ Ba Lan thường là sinh viên. Nhiều người trong số họ bước vào cuộc sống hôn nhân từ khi còn rất trẻ. Việc họ phải lấy vợ sớm có nhiều lí do. Trước hết, họ nương tựa vào phía Ba Lan để hợp pháp hoá cho việc ở lại. Sau nữa, họ phải cưới vợ vì lỡ sa chân vào những mối tình chớp nhoáng với các cô gái tóc vàng.

Nguyên có hai thằng „đệ” sinh viên. Ngày còn ở Việt Nam chúng nó là niềm tự hào không những của dòng tộc mà của cả huyện, cả tỉnh. Hai thằng đều là „dân trường chuyên” có tiếng ở Việt Nam, chúng lần lượt giành các giải thưởng danh giá dễ như cởi truồng „bơi chó” qua cái ao trước cửa sân đình. Chúng tuy học rất giỏi nhưng đều tụt xuống từ lưng trâu. Đặt chân đến Ba Lan đúng vào lúc cơ thể rừng rực sức xuân của một con đực vừa mới hoàn thiện, lại chuyển đổi cơ chế từ „đói góp” sang „no dồn” thế nên chúng nó „đành lòng vậy, cầm lòng vậy” sao được mỗi khi nhìn thấy gái tây. Một lần Nguyên vừa nấu xong bữa tối chưa kịp ăn thì nghe tiếng gõ cửa dồn dập. Mở cửa ngó ra Nguyên thấy hai thằng em đang đứng cùng hai con tây trẻ măng. Nguyên xua tay ra chiều từ chối rồi sập ngay cửa lại. Một thằng đẩy mạnh cửa bước vào phòng, chắp tay lạy Nguyên như tế sao: - Anh ơi! Thương tụi em với, anh mà không cho vào thì tụi em biết „chiến” ở đâu. Nguyên vẫn lắc đầu: - Gái với chả mú, „chiến” ở đây để „đen” hết vía nhà tao à. Nguyên vẫn dứt khoát. Thằng kia nói: - Anh ơi! Em thề với anh rằng chúng nó là học sinh, không phải mấy con „dziwka” đâu. Nguyên vẫn không nhượng bộ: - Sao chúng mày không rước về kí túc xá? Thằng kia nói gần như khóc: - Về đấy rồi nhưng bà thường trực dứt khoát không cho vào. Thấy thằng đệ ruột một thời sinh tử cùng nhau van nài mãi, Nguyên cũng thương, nó tặc lưỡi: - Thôi chúng mày vào đi nhưng không được qua đêm đấy nhé. Chưa kịp ăn uống gì, Nguyên giao nhà lại cho bốn đứa rồi lang thang ra trung tâm mua vé vào rạp xem phim. Chừng nửa đêm nghĩ tụi kia chắc „chiến” đã xong, Nguyên trở về nhà. Lúc đập cửa nó thấy một thằng mặc mỗi cái chíp trên người thò đầu ra nhăn nhở: - Anh đi đâu chừng tiếng nữa quay lại được không? Mẹ kiếp! Tụi nó quần nhau bao nhiêu hiệp rồi không biết nữa. Nguyên phờ phạc vì lang thang mấy tiếng ngoài đường nhưng biết làm gì được, nó lại ra quán rượu gần đó ngồi gà gật thêm mấy ly. Độ tiếng rưỡi sau, Nguyên trở về nhà với thái độ rất dứt khoát, nó mệt quá rồi, không lẽ lại ngủ ngoài Ga với mấy thằng nghiện hút. Nhưng lần này chúng nó không đuổi Nguyên đi nữa, hai con kia cũng biến đâu mất dạng rồi. Nhà Nguyên lúc đó như một bãi chiến trường. Ga đệm nhàu nát, nhầy nhụa, loang lổ. Bát đĩa, xoong nồi, vỏ chai bia lỏng chỏng. Tủ lạnh sạch trơn không còn thứ gì ăn được. Nguyên vừa đói, vừa mệt, vừa buồn ngủ. Nó đổ vật xuống sàn nằm thở. Trong lúc hai thằng „đệ” dọn rửa, Nguyên hỏi: - Hai con kia bắt ở đâu ra. Tụi nó tranh nhau kể: - Có bắt gì đâu anh, hai con đó con nhà lành, mới lớn, thích đú đởn rượu, bia, thuốc lá chứ không cần tiền. Một thằng còn khoe: - Chúng đang là học sinh trung học chưa đầy mười sáu tuổi, anh ạ. Nguyên nghe xong lạnh gáy chửi: - Mẹ chúng mày, ngu thế! Chơi gì thì chơi, không để cửa mà sống, chưa đủ tuổi vị thành niên mà bọn mày dám ru vào đời, có ngày tù mọt gông. Một thằng nhăn nhở: - Chúng nó ru bọn em vào đời thì có, chính hai con nhỏ „bóc tem” bọn em chứ không phải ngược lại đâu nhá. Lâu không gặp lại, chừng hai năm sau Nguyên nghe tin hai thằng „đệ ruột” của „cái đêm hôm  đó, đêm gì?” đã bỏ học để kiếm tiền nuôi con. Thế là hai dòng họ lam lũ ở Việt Nam đã mất đi hai niềm tự hào mà hàng trăm năm nay họ mới loé lên niềm hi vọng được mở mặt với đời.

Tuy không nhiều nhưng số lượng du học sinh đào thoát ngày càng tăng lên, trong số họ có nhiều người lấy vợ, lấy chồng là người Ba Lan. Bắt đầu từ lứa đầu tiên khoảng năm 1970, hai mươi năm sau đã có hàng trăm du học sinh Việt Nam ở lại Ba Lan định cư. Số người Việt Nam „Lưu Vong” này dần dần nhận được giấy tờ hợp pháp từ phía Ba Lan. Vai trò của họ trong đời sống kinh tế, xã hội Ba Lan và Việt Nam ngày càng được khẳng định.

Do nhu cầu hợp tác và hỗ trợ trong cuộc sống trở nên cấp thiết, tháng 4 năm 1986 những cựu du học sinh đã liên kết với nhau thành lập Hội Văn hoá và Xã hội người Việt Nam tại Ba Lan. Đây là tổ chức có tư cách pháp nhân đầu tiên của những người Việt Nam mà trước đó ít lâu còn mang tiếng „Lưu Vong”. Sự kiện này đánh dấu một chương mới đầy ý nghĩa đối với những người Việt Nam ở lại Ba Lan hợp pháp, từ đây trên mọi phương diện của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội cái mác Việt Kiều mới chính thức được thừa nhận và đề cao.

Trần Quốc Quân   


Ảnh trong bài: Nếu không ghi thêm, tất cả các ảnh trong bài này chỉ mang tính minh họa và có bản quyền như nguồn tin gốc đã đưa.

 

Booking.com
Tiêu điểm

Đọc nhiều

Thảo luận

Quảng cáo