Tín ngưỡng

Tù mù tiền công đức

Cập nhật lúc 20-03-2012 18:13:24 (GMT+1)

 

Đình, đền, chùa, phủ và các nơi thờ tự tín ngưỡng dân gian hầu hết đều có hòm công đức. Đây là một sáng kiến của người dân nhằm xã hội hóa hoạt động duy trì tín ngưỡng và bảo tồn di tích.


Ngày trước, việc công đức chưa có hòm như bây giờ nhưng người dân "hằng tâm hằng sản” công đức bằng ngày công lao động tu bổ di tích hay góp ruộng, góp thóc phục vụ việc hương khói thường ngày hoặc mỗi kỳ lễ hội. Khoảng 20 năm trở lại đây, cùng với việc "Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, việc tôn tạo các đình, đền, chùa phát triển rầm rộ. Khi đình, đền, chùa... đã được tôn tạo xong thì "sáng kiến” để thu hút xã hội hóa tiện lợi nhất là đặt hòm công đức.

Xung quanh câu chuyện hòm công đức là những ái, ố, hỷ, nộ bàn tán khắp nơi. Hai năm trước, Bộ VHTTDL từng ra Chỉ thị số 16/CT có quy định: "Mỗi di tích chỉ nên đặt 1 hoặc tối đa 3 hòm công đức”. Thế nhưng, ở những nơi thu hút được nhiều người dân đến thì có khi ban thờ nào cũng có hòm công đức. Có nơi lên đến vài chục hòm công đức (mà bằng két sắt hẳn hoi) để phục vụ người dân có nhu cầu công đức.

Khi bỏ tiền vào hòm công đức, người thì coi đó như sự thành tâm để di tích được trùng tu khang trang, người cho đó là lễ vật dâng thần linh để cầu mong ban cho mình công danh, tài lộc, sức khỏe... thậm chí cầu cả những điều trái đạo đức. Thế nhưng rất ít ai quan tâm xem hành trình của những đồng tiền công đức ấy ra sao?. Ai là người được quyền sử dụng? Có bị cá nhân, nhóm lợi ích biển thủ không? Và đồng tiền công đức được sử dụng ra sao, có đúng tâm nguyện không hay thậm chí làm méo mó sai lạc ý nghĩa hòm công đức.

Đến nay, chưa có một quy chuẩn nào cho việc quản lý các hòm công đức ở các di tích. Có nơi, hòm công đức do UBND huyện trực tiếp quản lý, nơi do cấp xã, nơi do thôn, nơi do Mặt trận Tổ quốc và các hội đoàn thể như: Người Cao tuổi, Hội Phụ nữ quản lý, có nơi do dân tự bầu ra ban quản lý, có nơi do nhà sư trụ trì, có nơi chỉ có thủ nhang cha truyền con nối đã mấy đời... Vì thế, Bộ VHTTDL vừa có quyết định giao Viện Văn hóa - Nghệ thuật Việt Nam xây dựng Dự thảo về quản lý tiền công đức ở các nơi tín ngưỡng này.

Đố ai biết lượng tiền công đức này sẽ có hành trình như thế nào?

Thực tế cho thấy có mấy vấn đề thường gặp phải khi quản lý tiền công đức. Thứ nhất, rất nhiều người muốn giành được quyền quản lý. Vậy tiêu chí nào để xây dựng ra ban quản lý? Do chính quyền ra quyết định bổ nhiệm hay do dân bỏ phiếu bầu? Thứ hai, cơ sở minh bạch và giám sát như thế nào? Chính vì không minh bạch và không có cơ chế giám sát nên dễ xảy ra tình trạng thất thoát tiền công đức. Đa số các di tích đều không công bố khoản thu này. Vì tranh đua lợi ích nên đã xảy ra tình trạng "đấu thầu”, "khoán” cho người quản lý mỗi tháng, mỗi năm phải nộp cho chính quyền, cho làng bao nhiêu tiền. Ví như di tích Đền Ông Hoàng Mười được xã Hưng Thịnh (huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An) mấy năm trước "khoán gọn” cho người trông coi là 600 triệu đồng. Đầu năm 2012, ước thấy khoản thu lớn nên xã tăng lên mức 900 triệu đồng/năm. Hay như ở di tích Phủ Giày đã xảy ra va chạm giữa Ban quản lý do chính quyền thành lập với một số thủ nhang quản lý tiền công đức mấy năm trước. Trong khi lượng tiền công đức không được công bố rõ ràng thì người ta cứ phỏng đoán dựa theo những phép tính ước đoán. Ví như: theo thống kê chưa đầy đủ từ Bộ VHTTDL mùa lễ hội vừa qua có gần 4 triệu lượt khách về dự lễ hội Đền Hùng; Yên Tử có 1,2 triệu; Đền Trần 60.200 người; Côn Sơn, Kiếp Bạc 70.000 người; Chợ Viềng và Phủ Giầy 700.000 người; Chùa Bà (Bình Dương) hơn 1,5 triệu; Lễ hội núi Bà Đen (Tây Ninh) 1,5 triệu người... Như vậy, giả thử tính trung bình mỗi người công đức 5 ngàn đồng số tiền nhận được ở Đền Hùng là 20 tỷ; Yên Tử là 6 tỷ... thật là một con số "khủng”. Nhưng cũng chưa "choáng” bằng TP. Hà Nội tiết lộ lượng tiền công đức tại Đền Trình – Chùa Hương chỉ trong ba tháng của năm 2010 đã nhận về 30 tỷ đồng.

Nhưng con số "khủng” và "choáng” này đi đâu? Không thể nộp hoàn toàn vào ngân sách nhà nước được vì như thế sai mục đích tín ngưỡng người dân. Nhưng cũng không thể đánh thuế được vì đền chùa có phải doanh nghiệp kinh doanh đâu? Và cũng không thể coi quản lý tiền công đức là một nghề vì sẽ là mầm mống của tiêu cực.

Trong khi việc bàn thảo, tọa đàm, hội thảo sẽ được tiến hành để tiến tới xây dựng đề án thì hòm công đức - "cái máy đẻ tiền” - tiếp tục đẻ ra tiền. Cái máy không biết sản lượng của mình là bao nhiêu, nó cũng chẳng quan tâm đến ai sẽ lấy tiền trong bụng của mình ra dùng vào việc gì. Người hiểu rõ hơn cả chính là người giành được quyền kiểm soát hòm công đức mà thôi.

Cuối cùng, có lẽ người quản lý tiền công đức mà không cần sự minh bạch cũng chẳng thiết tha với Đề án của Viện Văn hóa - Nghệ thuật Việt Nam.

Nguồn: Daidoanket

Ảnh trong bài: Nếu không ghi thêm, tất cả các ảnh trong bài này chỉ mang tính minh họa và có bản quyền như nguồn tin gốc đã đưa.

Tin liên quan

 

Booking.com
Tiêu điểm

Đọc nhiều

Thảo luận

Quảng cáo