Góc nhìn

Nhật thua vì Stalin chứ không vì bom nguyên tử (2)

Cập nhật lúc 07-06-2013 20:49:31 (GMT+1)

 

Nếu người Nhật nói chung không quan tâm lắm đến việc oanh tạc các thành phố cũng như việc ném bom hạt nhân ở Hiroshima, thì họ quan tâm đến điều gì? Câu trả lời thật đơn giản: Liên Xô.


>Nhật thua vì Stalin chứ không vì bom nguyên tử (1)

Tầm quan trọng Chiến lược

Người Nhật đang lâm vào tình thế chiến lược tương đối khó khăn. Họ ở gần điểm cuối của một cuộc chiến mà họ đang là kẻ thua trận. Tình hình trở nên xấu hơn. Tuy nhiên, Quân đội vẫn vững mạnh và được tiếp tế tốt. Vẫn còn gần 4 triệu quân tác chiến trong đó 1,2 triệu đang bảo vệ các hòn đảo của Nhật.

Ngay cả những quan chức cứng rắn nhất trong chính quyền Nhật cũng biết rằng không thể tiếp tục cuộc chiến. Câu hỏi không phải là liệu có nên tiếp tục, mà là làm cách nào để chấm dứt cuộc chiến với càng nhiều lợi thế càng tốt. Phe Đồng minh (Hoa Kỳ, Anh và các quốc gia khác -- nên nhớ rằng Liên Xô vẫn giữ tính trung lập) đang đòi hỏi một “đầu hàng vô điều kiện.” Giới cầm đầu của Nhật hy vọng rằng họ vẫn có thể tìm cách thoát khỏi những phiên toà tội ác chiến tranh, giữ nguyên hình thái chính quyền của mình và giữ lại một số lãnh thổ mà họ từng chiếm được như Triều Tiên, Việt Nam, Miến Điện, vài phần của Malaysia và Indonesia, một phần lớn phía đông Trung Quốc cũng như vô số các hòn đảo trên Thái Bình Dương.

Họ có hai kế hoạch nhằm đạt được những điều kiện đầu hàng tốt hơn: nói cách khác, họ có hai lựa chọn chiến lược. Lựa chọn đầu tiên là ngoại giao. Nhật Bản đã ký một thoả ước trung lập 5 năm với Liên Xô vào tháng Tư 1941, có nghĩa là nó sẽ hết hạn vào năm 1946. Một nhóm gồm đa số các quan chức dân sự do Bộ trưởng Ngoại giao Togo Shigenori dẫn đầu hy vọng sẽ thuyết phục được Stalin đóng vai trò điều phối giữa một bên là Hoa Kỳ và các đồng minh và bên kia là Nhật Bản. Mặc dù kế hoạch này khó có triển vọng, nó cho thấy một tầm nhìn chiến lược. Nói cho cùng, Liên Xô sẽ quan tâm hơn đến việc bảo đảm rằng các điều khoản dàn xếp thì không có lợi lắm cho Hoa Kỳ: bất kỳ sự tăng cường quyền lực và ảnh hưởng nào ca Hoa Kỳ tại châu Á cũng có nghĩa là sẽ làm giảm thiểu quyền lực và ảnh hưởng của Nga.

Kế hoạch thứ hai là quân sự, và đa số những người cổ xuý nó, dẫn đầu bởi Bộ trưởng Chiến tranh Anami Korechika, đều là giới quân nhân. Họ hy vọng có thể sử dụng bộ binh của Quân đội Nhật hoàng để gây tổn thương lớn đến quân đội Hoa Kỳ nhằm đạt được những điều khoản có lợi hơn. Chiến lược này cũng hơi xa vời. Hoa Kỳ dường như kiên quyết đạt bằng được việc đầu hàng vô điều kiện. Nhưng trên thực tế vì nội bộ quân đội Hoa Kỳ quan ngại và không muốn có một cuộc đánh chiếm với lượng tử vong cao, nên chiến lược của tư lệnh tối cao Nhật không hoàn toàn là quá đáng.

Một cách để đánh giá liệu việc ném bom Hiroshima hay việc tuyên chiến và tấn công của Liên Xô là nguyên nhân khiến Nhật phải đầu hàng là so sánh hai sự kiện này đã ảnh hưởng đến tình hình chiến lược ra sao. Sau khi Hiroshima bị ném bom vào ngày 8 tháng Tám, cả hai lựa chọn trên đều còn khả năng. Vẫn còn có thể nhờ Stalin môi giới (và nhật ký của Takagi viết vào ngày 8 tháng Tám cho thấy rằng ít nhất là còn vài quan chức Nhật vẫn còn nghĩ đến nỗ lực lôi kéo Stalin vào cuộc). Vẫn còn có thể cố gắng để đánh một trận cân não cuối cùng và gây tổn thất nặng nề cho đối phương. Việc Hiroshima bị tàn phá chẳng có ảnh hưởng gì đến việc làm suy giảm tính sẵn sàng của binh lính đang cố thủ tại các hòn đảo của Nhật. Lúc ấy chẳng còn mấy thành phố sau lưng, nhưng họ vẫn cố thủ, họ vẫn còn đạn dược, và sức mạnh quân sự của họ vẫn chưa bị suy giảm nghiêm trọng. Việc thả bom Hiroshima đã không làm phá sản hai lựa chọn chiến lược của Nhật.

Ngược lại, ảnh hưởng của việc Liên Xô tuyên chiến và đánh chiếm Mãn Châu và Đảo Sakhalin lại rất khác biệt. Một khi Liên Xô đã tuyên chiến, Stalin không còn có thể đóng vai trung gian -- ông đã trở thành kẻ tham chiến. Vì thế lựa chọn ngoại giao đã bị xoá sổ bởi hành động của Liên Xô. Ảnh hưởng đối với tình hình quân sự cũng rất nghiêm trọng. Đa số các đội quân tinh nhuệ nhất của Nhật đã bị chuyển đến phía nam của các hòn đảo trong nước. Quân đội Nhật đã đoán đúng rằng mục tiêu tấn công đầu tiên của Mỹ chắc chắn sẽ là hòn đảo cực nam Kyushu. Ví dụ như đội quân Quan Đông nổi tiếng một thời ở Mãn Châu giờ chỉ là cái vỏ ngoài so với trước đây vì những đơn vị tinh nhuệ nhất đã bị chuyển về phòng thủ Nhật Bản. Khi người Nga tấn công Mãn Châu, họ đã chọc thủng đội quân tiên tiến một thời và nhiều đơn vị của Nga chỉ dừng lại khi cạn kiệt nhiên liệu. Tập đoàn quân thứ 16 của Nga với 100 nghìn quân đã phát động một cuộc tấn công vào nửa phía nam Đảo Sakhalin. Họ được lệnh xoá sạch những kháng cự của Nhật và chỉ trong 10 đến 14 ngày, phải sẵn sàng để đánh chiếm Hokkaido. Quân Nhật được lệnh phải bảo vệ Hokkaido, Tập đoàn quân Khu vực số 5 với hai sư đoàn vài hai lữ đoàn đang ở trong các vị trí cố thủ ở phía đông hòn đảo. Kế hoạch tấn công của Liên Xô lại nhắm vào việc đánh chiếm Hokkaido từ phía tây.

Chẳng cần đến một thiên tài quân sự để thấy rằng, trong khi có thể đánh một trận cân não chống lại một hoả lực lớn đang tấn công ở một hướng, nhưng không thể nào chống lại hai hoả lực lớn tấn công từ hai hướng khác nhau. Cuộc tấn công của Liên Xô đã làm mất hiệu lực của chiến lược quân sự của một trận đánh quyết định, cũng như nó đã làm mất hiệu lực chiến lược ngoại giao. Chỉ trong một nước đi, toàn bộ những lựa chọn của Nhật đã bị tiêu tan. Cuộc tấn công của Liên Xô đã mang tính quyết định về chiến lược -- nó làm phá sản cả hai phương án của Nhật -- trong khi việc ném bom vào Hiroshima lại chẳng làm phá sản phương án nào.

Việc Liên Xô tuyên chiến cũng đã thay đổi việc tính toán lượng thời gian còn lại để xoay trở. Tình báo Nhật tiên đoán rằng lực lượng Hoa Kỳ sẽ không tấn công trong vài tháng tới. Trong lúc ấy, lực lượng Xô Viết có thể có mặt tại Nhật chỉ trong 10 ngày. Cuộc tấn công của Nhật đã khiến cho quyết định chấm dứt chiến tranh trở nên cực kỳ cấp bách.

Và các nhà lãnh đạo Nhật đã rút ra kết luận này từ vài tháng trước. Trong một cuộc họp của Hội đồng Tối Cao vào tháng Sáu 1945, họ đã nói rằng việc Liên Xô tham chiến “sẽ quyết định số phận của Đế chế Nhật.” Phó Tham mưu Trưởng Kawabe nói trong cùng cuộc họp rằng “việc giữ gìn hoà bình tuyệt đối trong quan hệ của chúng ta với Liên Xô là bắt buộc đối với việc duy trì cuộc chiến.”

Chính quyền Nhật đã một mực không quan tâm đến chiến dịch không kích đang tàn phá các thành phố của họ. Điều này có thể không đúng khi việc ném bom bắt đầu vào tháng Ba 1945, nhưng cho đến khi Hiroshima bị tấn công thì rõ ràng họ đã đúng khi xem việc dội bom chỉ là một màn trình diễn không quan trọng về mặt gây ảnh hưởng chiến lược. Khi Truman đưa ra lời đe doạ nổi tiếng là sẽ “dội mưa huỷ diệt” lên các thành phố Nhật nếu Nhật không chịu đầu hàng, rất ít người ở Hoa Kỳ biết rằng chẳng còn gì để huỷ diệt. Đến ngày 7 tháng Tám, sau khi Truman đưa ra lời đe doạ, chỉ còn 10 thành phố có dân số hơn 100 nghìn vẫn chưa bị ném bom. Sau khi Nagasaki bị tấn công vào ngày 9 tháng Tám, chỉ còn lại chín thành phố. Bốn nơi trong số đó nằm ở cực bắc đảo Hokkaido, rất khó để oanh tạc vì khoảng cách quá xa Đảo Tinian, căn cứ của các máy bay Mỹ. Bộ trưởng Chiến tranh Hoa Kỳ Henry Stimson đã loại Kyoto, thủ đô cổ của Nhật, ra khỏi danh sách các mục tiêu tấn công vì tính quan trọng về tôn giáo và biểu tượng của Nhật. Vì thế dù lời đe doạ của Truman thật đáng sợ, sau khi Nagasaki bị ném bom thì chỉ còn lại mỗi bốn thành phố lớn là có thể bị ném bom hạt nhân ngay.

Tầm mức dữ dội và xuyên suốt của chiến dịch oanh tạc của Không quân Hoa Kỳ có thể đo lường bằng thực tế là họ đã ném đi ném lại các thành phố Nhật đến nỗi họ phải tấn công cả những “thành phố” với dân số chỉ đến 30 nghìn người hoặc ít hơn. Trong một thế giới cận đại, 30 nghìn người cũng chỉ tương đương với một thị trấn lớn.

Đương nhiên là luôn có khả năng để tái tấn công các thành phố vốn đã bị oanh tạc bằng bom xăng. Nhưng trung bình thì các thành phố này đã bị huỷ diệt đến 50 phần trăm. Hoặc Hoa Kỳ có thể ném bom hạt nhân lên các thành phố nhỏ hơn. Tuy nhiên, chỉ còn lại sáu thành phố nhỏ (với dân số từ 30 nghìn đến 100 nghìn dân) chưa bị ném bom. Với tình hình Nhật đã có đến 68 thành phố bị tàn phá bởi các vụ không kích, và hầu như vẫn bình chân, thì có lẽ không gì ngạc nhiên khi giới lãnh đạo Nhật đã không ấn tượng mấy với lời đe doạ đánh bom thêm nữa. Điều này không thuyết phục mấy về mặt chiến lược.

Một cốt truyện tiện lợi

Bất chấp sự hiện hữu của ba luận điểm phản biện đầy thuyết phục trên, những giải thích truyền thống vẫn bám chặt trong quan điểm của nhiều người, nhất là tại Hoa Kỳ. Người ta thật sự không muốn nhìn vào dữ kiện. Nhưng có lẽ điều này cũng không đáng ngạc nhiên. Cũng đáng để chúng ta tự nhắc mình rằng kiểu lý giải truyền thống thật tiện lợi về mặt cảm xúc -- đối với Nhật Bản lẫn Hoa Kỳ. Quan điểm có thể mang tính cố chấp vì nếu chúng đúng sự thật, nhưng đáng tiếc, chúng cũng có thể cố chấp vì thoả mãn được cảm xúc. Chúng bù đắp được nhu cầu tâm lý đầy quan trọng. Ví dụ, khi cuộc chiến kết thúc, lý giải truyền thống về sự kiện Hiroshima đã giúp giới lãnh đạo Nhật đạt được những mục tiêu chính trị quan trọng, về đối nội lẫn đối ngoại.

Hãy đặt mình vào vị trí của Nhật hoàng. Bạn vừa đưa đất nước qua một cuộc chiến tranh thảm bại. Nền kinh tế tan hoang. Tám mươi phần trăm các thành phố của bạn đã bị ném bom cháy rụi. Quân đội đã gục quị sau hàng loạt thất bại. Hải quân bị xoá sổ và chỉ co cụm trong bờ. Nạn đói đang đe dọa. Nói tóm lại, cuộc chiến này là một đại hoạ và điều tệ nhất là bạn đã nói dối với người dân của mình về tình hình đất nước xấu đến mức nào. Họ sẽ bị sốc trước tin đầu hàng. Vậy bạn muốn làm điều gì hơn? Thừa nhận là bạn đã thất bại thảm hại? Đưa ra một tuyên bố nói rằng bạn đã tính toán sai lầm trầm trọng, lặp lại lỗi lầm, và gây thiệt hại nghiêm trọng cho đất nước? Hay là đổ lỗi của việc thất trận lên trên một khám phá khoa học kỳ diệu chẳng ai có thể đoán trước? Chỉ cần một động thái là đổ lỗi thất trận lên quả bom nguyên tử đã giúp quét sạch toàn bộ các lỗi lầm và tiên đoán sai lạc về cuộc chiến xuống gậm bàn. Quả Bom là một lời bào chữa hoàn hão cho việc thất trận. Không cần phải chia sẻ trách nhiệm; không cần tổ chức những cuộc điều trần để giải trình. Các nhà lãnh đạo Nhật đã có thể tuyên bố rằng họ đã làm hết sức mình. Vì thế, trên phạm trù tổng quát nhất quả Bom đã đóng vai trò chuyển hoá trách nhiệm khỏi các quan chức Nhật.

Qui kết sự bại trận của Nhật cho quả Bom cũng được dùng cho ba mục đích chính trị đặc biệt khác. Thứ nhất, nó giúp bảo toàn tính chính danh của Nhật hoàng. Nếu việc bại trận không phải vì các lỗi lầm mà vì một vũ khí kỳ diệu đầy bất ngờ của kẻ thù, thì ngôi vị hoàng đế vẫn có thể tiếp tục tìm được hậu thuẫn trong nước.

Thứ hai, nó kêu gọi sự đồng cảm quốc tế. Nhật đã phát động chiến tranh một cách hung hãn, và đặc biệt rất tàn ác với người dân các nước bị họ xâm chiếm. Hành xử của họ trong chiến tranh chắc chắn sẽ bị các nước khác lên án. Biến Nhật Bản thành một quốc gia nạn nhân từng bị tấn công một cách bất công bằng thứ vũ khí tàn khốc ác liệt của chiến tranh sẽ giúp dung hoà những điều kinh tởm vô đạo đức mà quân đội Nhật đã làm. Chuyển vận sự chú tâm của mọi người vào việc ném bom hạt nhân giúp tô vẽ Nhật dưới một ánh sáng đồng cảm và chuyển hoá những đòi hỏi trừng phạt nghiêm khắc.

Cuối cùng, nói rằng quả Bom đã thắng cuộc chiến cũng làm thoả mãn người Mỹ chiến thắng. Quá trình chiếm đóng của Mỹ ở Nhật kéo dài đến năm 1952, và trong giai đoạn ấy Hoa Kỳ đã có quyền thay đổi hoặc biến xã hội Nhật theo ý của mình. Trong những ngày đầu chiếm đóng, nhiều quan chức Nhật đã lo ngại rằng người Mỹ muốn xóa bỏ ngôi vị Nhật hoàng. Và họ còn lo đến một điều khác. Nhiều quan chức cao cấp của Nhật biết rằng họ có thể phải đối diện với toà án tội ác chiến tranh (những phiên toà xử tội ác của những kẻ cầm đầu Đức Quốc xã đã đang được tiến hành tại châu Âu khi Nhật đầu hàng). Sử gia Nhật Asada Sadao đã nói trong nhiều cuộc phỏng vấn sau chiến tranh rằng “Các quan chức Nhật... rõ ràng là đã lo làm vừa lòng những nhân viên tra vấn Mỹ.” Nếu người Mỹ muốn tin rằng quả Bom đã giúp đánh thắng cuộc chiến thì tại sao lại phải làm họ phật lòng?

Suy luận việc quả bom hạt nhân giúp kết thúc chiến tranh đã phục vụ quyền lợi của Nhật trong nhiều phương diện. Nhưng nó cũng phục vụ quyền lợi của Hoa Kỳ. Nếu quả Bom chiến thắng cuộc chiến, thì cái nhìn về sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ cũng được tăng lên, ảnh hưởng ngoại giao của Hoa Kỳ tại châu Á và trên thế giới cũng tăng theo, và an ninh Hoa Kỳ cũng được củng cố. Hai tỉ Mỹ kim sử dụng để chế tạo nó đã không phí hoài. Ngược lại, nếu việc Liên Xô tham chiến là nguyên nhân khiến Nhật đầu hàng, thì Liên Xô sẽ có thể tuyên bố rằng họ đã làm được trong bốn ngày việc mà Hoa Kỳ đã không làm được trong bốn năm, và quan điểm về sức mạnh quân sự cũng như ảnh hưởng ngoại giao của Liên Xô sẽ tăng lên. Và khi cuộc Chiến tranh Lạnh diễn ra, nhận định rằng việc Liên Xô tham chiến là yếu tố quyết định cũng chẳng khác gì giúp đỡ và hỗ trợ kẻ thù.

Với những câu hỏi được đặt ra ở đây, thật đáng quan ngại khi nghĩ đến bằng chứng của sự kiện Hiroshima và Nagasaki là trọng tâm của mọi lập luận khi ta đề cập đến vấn đề vũ khí hạt nhân. Sự kiện này là nền tảng để biện hộ cho tầm quan trọng của vũ khí hạt nhân. Nó đóng vai trò tối trọng đối với vị thế của thứ vũ khí này, đó là quan điểm rằng những luật lệ bình thường thì không áp dụng với vũ khí hạt nhân. Đó là phạm vi tối trọng của mối đe doạ hạt nhân: Đe doạ của Truman về việc dội “mưa huỷ diệt” lên Nhật Bản là lời đe doạ nguyên tử đầu tiên rõ rệt nhất. Nó là chìa khoá của ánh hào quang về quyền lực khổng lồ phong toả loại vũ khí này, khiến nó trở nên vô cùng quan trọng trong quan hệ quốc tế.

Nhưng chúng ta là gì để có thể đưa ra những kết luận trên nếu câu chuyện cố hữu về Hiroshima bị nghi ngờ? Hiroshima là trọng tâm, là điểm mấu chốt mà từ đó phát ra những tuyên bố và khẳng định khác. Nhưng câu chuyện mà chúng ta vẫn tự kể cho nhau nghe dường như lại quá xa so với thực tế. Chúng ta là gì để bàn về vũ khí hạt nhân nếu thành quả vĩ đại đầu tiên này -- sự kỳ diệu của quả bom khiến Nhật Bản bất ngờ đầu hàng -- hoá ra chỉ là một thứ huyền thoại?

Nguồn:Diên Vỹ chuyển ngữ/foreignpolicy/Danluan

Ảnh trong bài: Nếu không ghi thêm, tất cả các ảnh trong bài này chỉ mang tính minh họa và có bản quyền như nguồn tin gốc đã đưa.

 

Booking.com
Tiêu điểm

Thảo luận

Quảng cáo