Góc nhìn

Lại nói Phạm Văn Đồng có bán nước không?

Cập nhật lúc 27-04-2017 06:00:26 (GMT+1)
Ảnh: Internet

 

Tôi thấy các ông ở đây tranh cãi toàn lệch đi đâu, cuối cùng lại thấy công kích nhau. Giờ tôi phân tích đúng bối cảnh và luật quốc tế để thấy rõ vấn đề nhé.


- Đầu thế kỷ 20, nhiều quốc gia muốn mở rộng quyền tuyên bố chủ quyền nhằm giữ các nguồn tài nguyên khoáng sản, bảo vệ nguồn cá và có các phương tiện để thực thi kiểm soát ô nhiễm. Hội Quốc Liên (League of Nations, không phải Liên Hợp Quốc hiện nay) đã tổ chức một hội nghị năm 1930 tại Hague để bàn về điều này, nhưng không đạt được thỏa thuận nào. Năm 1945, Tổng thống Harry S. Truman đã mở rộng sự kiểm soát quốc gia trên các tài nguyên thiên nhiên ở trong thềm lục địa của mình. Các quốc gia khác cũng đua theo Mỹ, trong đó có Trung Quốc, VNDCCH và VNCH.

- Năm 1956, hai đảo Phú Lâm và Linh Côn thuộc Hoàng Sa bị Trung Quốc chiếm. Đảo Phú Lâm có miếu của vua Minh Mạng. Đảo Phú Lâm và Linh Côn cũng là 2 đảo lục địa tự nhiên lớn nhất Hoàng Sa. Không phải đảo ngầm, đảo san hô, hay bãi cạn mà là đảo lục địa tự nhiên. (Cái này quan trọng nhé)

- Năm 1956, Liên Hợp Quốc tổ chức Hội nghị về Luật Biển đầu tiên (UNCLOS I) ở Geneva, Thụy Sĩ. Hội nghị này đạt được bốn hiệp định, ký kết năm 1958:

+ Công Ước về Lãnh Hải và Vùng Tiếp Giáp, có hiệu lực vào ngày 10/09/1964
+ Công Ước về Thềm Lục Địa, có hiệu lực vào ngày 10/06/1964
+ Công Ước về Hải Phận Quốc tế, có hiệu lực vào ngày 30/09/1962
+ Công Ước về Nghề Cá và Bảo Tồn Tài nguyên Sống ở Hải Phận Quốc tế, có hiệu lực vào ngày 20/03/1966.

Các công ước này đã pháp điển hóa rất nhiều các nguyên tắc tập quán và đã đưa ra nhiều khái niệm mới (như thềm lục địa). Dù vậy, công ước này thất bại trong việc thống nhất bề rộng lãnh hải (các quốc gia yêu sách tới năm loại bề rộng lãnh hải khác nhau) và trong việc xác định ranh giới của thềm lục địa.

-> Tức là UNCLOS I năm 1956 đã đưa ra các khái niệm quan trọng đặc biệt là "thềm lục địa". Chưa hề rõ ràng trong việc loại đảo nào thì có lãnh hải, loại đảo nào không có lãnh hải.

- Năm 1967, vấn đề về các tuyên bố khác nhau về lãnh hải đã được nêu ra tại Liên Hiệp Quốc. Năm 1973, Hội nghị Liên Hiệp Quốc lần thứ 3 về Luật biển (Third United Nations Conference on the Law of the Sea) được tổ chức tại New York. Để cố gắng giảm khả năng các nhóm quốc gia thống trị đàm phán, hội nghị dùng một quy trình đồng thuận thay cho bỏ phiếu lấy đa số. Với hơn 160 nước tham gia, hội nghị kéo dài đến năm 1982. Kết quả là một công ước có hiệu lực từ ngày 16 tháng 11 năm 1994.

- Như vậy từ 1956 đến 1988, Trung Quốc đánh chiếm các đảo của ta rất khéo, trước khi luật biển có hiệu lực. Nhưng việc kiện nó vẫn có cơ sở pháp lý, liên quan đến xác định lịch sử chủ quyền khu vực tranh chấp, đây lại là luật khác.

* * *

- Giờ nói về anh Đồng, xem anh ấy có lỗi hay không có lỗi nhé.

- Năm 1956 Trung Quốc chiếm 2 đảo lớn nhất tại Hoàng Sa, khi đó thuộc chủ quyền VNCH. Không rõ vào thời điểm này, phía VNDCCH nghĩ sao về hành động này của Trung Quốc? Rằng đó là đất của Việt Nam, dù là VNCH hay VNDCCH cũng đều là Việt Nam? Hay rằng đó là đồng minh của ta (VNDCCH) nên đồng minh chiếm của địch (VNCH) rồi sau này sẽ trả lại cho ta?

- Cũng năm 1956, UNCLOS I ra đời, ký năm 1958, đưa ra khái niệm về "thềm lục địa".

Thuật ngữ "thềm lục địa" (1958) được sử dụng như là nói đến

(a) phần đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của các khu vực biển tiếp giáp với bờ nhưng ngoài khu vực lãnh hải, tới độ sâu 200 mét hoặc, vượt ra ngoài giới hạn đó, tới độ sâu của các vùng nước chồng lên nhau cho phép khai thác được các nguồn tài nguyên thiên nhiên của các khu vực đã nói;

(b) phần đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của các khu vực tương tự tiếp giáp với các bờ của các đảo.

Khái niệm thềm lục địa 1958 này không rõ ràng và chi tiết như khái niệm được cải tiến vào năm 1982. Nhưng nó đã đưa ra khái niệm thềm lục địa, lãnh hải.

Đảo lục địa (Continental island) là một phần đất đai nằm trên thềm lục địa của một lục địa nào đó. 2 đảo lớn nhất của Hoàng Sa là (tiểu) đảo lục địa tự nhiên do nằm trên thềm lục địa châu Á.

Kết hợp với phần b ở trên thì việc tuyên bố chủ quyền ở một đảo lục địa sẽ mang lại một vùng chủ quyền rộng lớn bao gồm thềm lục địa xung quanh đảo đó. Điều này cho thấy mức độ quan trọng trong việc tuyên bố chủ quyền ở một đảo lục địa hay quần đảo.

Mà nội dung UNCLOS I ra đời 2 năm trước công hàm Phạm Văn đồng, chứng tỏ, trước khi ra công hàm, chắc chắn Phạm Văn Đồng và các cố vấn của ông ta đã phải biết đến và nghiên cứu UNCLOS I khá chi tiết rồi.

- Năm 1958, Phạm Văn Đồng viết văn kiện 1958 công nhận tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trong Bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của CHND Trung Hoa.

- Như vậy, nếu Phạm Văn Đồng CHỈ công nhận tuyên bố về chủ quyền ĐẤT LIỀN của Trung Quốc, mà không công nhận tuyên bố về chủ quyền của Trung Quốc trên các đảo, quần đảo, trong đó có Trường Sa, Hoàng Sa, thì Phạm Văn Đồng, chiếu theo nội dung UNCLOS I, sẽ phải nói rõ công nhận lãnh hải 12 hải lý của phần đất liền thuộc lãnh thổ CHND Trung Hoa.

- Vì vào thời điểm này, việc loại đảo nào có lãnh hải, đảo nào chưa có lãnh hải chưa được LHQ quy định, nên về mặt đối ngoại, Phạm Văn Đồng đáng lẽ phải thận trọng hơn. Đặc biệt, trong thời gian từ 1930 đến 1967, các quốc gia thi nhau áp đặt các chủ quyền và vùng chủ quyền trên biển một cách tùy ý (đua theo các cường quốc) mà không có một định chế nào để áp dụng, nên việc một quốc gia tự ý áp đặt lãnh hải lên các đảo vào thời gian này cũng là dễ hiểu, cũng vì lẽ đó mà Chu Ân Lai đã tuyên bố: "Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, BAO GỒM phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc." Tức là 12 hải lý lãnh hải áp dụng cho cả các đảo mà nó tuyên bố chủ quyền.

Phạm Văn Đồng lại không thận trọng ngôn từ, nên đã vô tình dẫn đến hậu quả về sau khi Trung Quốc sử dụng công hàm đó để khẳng định chủ quyền.

* * *

- Lại nói Phạm Văn Đồng có bán nước không? Tôi nghĩ là không. Bởi, đối với các sự chuyển nhượng lãnh thổ, thì Thủ tướng VNDCCH không có thẩm quyền quyết định việc ấy, mà phải là cơ quan quyền lực tối thượng ở Việt Nam là Quốc hội. Và cuối cùng, VNDCCH không thể quyết định hoặc chuyển giao một thứ mà VNDCCH không có thẩm quyền quản lý theo công pháp quốc tế, và cũng không kiểm soát nó trong thực tế.

Ngoài ra, theo các quy định trong Hiệp định Geneve năm 1954 thì lúc này trên lãnh thổ Việt Nam tồn tại song song hai quốc gia, từ vĩ tuyến 17 trở ra phía Bắc là VNDCCH, còn từ vĩ tuyến 17 trở vào phía Nam là lãnh thổ thuộc VNCH. Hoàng Sa, Trường Sa đều nằm ở phía Nam của vĩ tuyến 17, vì thế về mặt pháp lý cũng như trong thực tế, hai quần đảo này là đối tượng quản lý của VNCH, và vì thế, những tuyên bố của phía VNDCCH đối với Hoàng Sa, Trường Sa vào thời điểm này là không có giá trị pháp lý.

- Năm 1957, Hồng quân Trung Quốc đã chiếm đảo Bạch Long Vĩ rồi sau đó trao trả lại cho phía VNDCCH. Có thể đây cũng là lý do VNDCCH tin tưởng CHND Trung Hoa trong việc chiếm 2 đảo lớn nhất tại Hoàng Sa từ tay VNCH năm 1956.

 

Ảnh trong bài: Nếu không ghi thêm, tất cả các ảnh trong bài này chỉ mang tính minh họa và có bản quyền như nguồn tin gốc đã đưa.

Tin liên quan

 

Booking.com
Tiêu điểm

Thảo luận

Quảng cáo