Góc nhìn

Hãy bước ra khỏi đám đông

Cập nhật lúc 01-08-2017 12:00:00 (GMT+1)
Timothy snyder và bìa cuốn sách " Miền đất đẫm máu: châu Âu trong giai đoạn giữa Hitler và Stalin"

 

Timothy Snyder là giáo sư sử học của trường Yale, và thường được mời giảng tại các trường như LSE, College of Europe. Ông là  là một tác giả chuyên về lịch sử Đông Âu và Holocaust.
Khả năng đọc hiểu trong 10 ngoại ngữ cho phép ông tiếp xúc được với nhiều nguồn tư liệu. Các cuốn sách của ông vì thế có được tiếng vang đặc biệt Cuốn Miền đất đẫm máu: châu Âu trong giai đoạn giữa Hitler và Stalin đã nhận được giải thưởng Hannah Arendt năm 2013 vì  tư tưởng chính trị. Cuốn sách mới nhất của ông mới ra đầu năm nay 2017  là cuốn có lẽ ai cũng nên đọc và ai cũng có thể đọc được, vì nó mỏng và ngắn gọn. Đó là cuốn Hai mươi bài học của thế kỷ XX. Những bài học này được ông rút ra từ lịch sử châu Âu, tuy nhiên tính thực tiễn của nó không chỉ dừng lại trong phạm vi châu Âu. Dưới đây là 2 trong số 20 bài học ấy.


>> Phần một: Hãy bước ra khỏi đám đông

>> Phần hai: Hãy ghi nhớ trong lòng đạo đức nghề nghiệp


Một ai đó sẽ phải can đảm làm điều này. Làm những gì người khác vẫn làm, thì thật đơn giản. Xử sự hoặc ăn nói khác với số đông có thể làm bạn thấy lạ lẫm. Thế nhưng, không có sự bất đồng ấy thì không có tự do. Hãy nhớ tới Rosa Parks (Rosa Lee Parks là một trong các nhà hoạt động vì quyền của người da màu tại Hoa Kỳ). Một khi bạn làm gương, lời nguyền mang tên “trạng thái hiện trạng” - Status quo - sẽ bị phá vỡ, những người khác sẽ theo gương bạn.

Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, tại châu Âu, tại Hoa Kỳ và cả các nơi khác đã ra đời các huyền thoại về cuộc phản công vì công bằng chống lại Hitler. Thế nhưng vào thời điểm của các năm 30, một thái độ dễ dãi và ngưỡng mộ Hitler đã từng bao trùm khắp nơi. Đến năm 1940, đại đa số người dân châu Âu đã chấp nhận quyền lực đang lên của nước Đức phát xít, mà sự phát triển vượt bậc của nó dường như không thể kìm chân nổi.  Charles Lindbergh và một số người Mỹ có ảnh hưởng lớn lúc đó đã từng phản đối chiến tranh với Đức dưới khẩu hiệu “America First” – “Nước Mỹ trước tiên”. Những người mà ngày hôm nay chúng ta tưởng nhớ và khâm phục, lúc bấy giờ đã bị coi là ngoại lệ, là lập dị, hay thậm chí là những kẻ điên rồ. Họ là những người đã không đổi thay, mặc dù thế giới xung quanh họ đã thay đổi.

Nhiều năm trước khi chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, một loạt các nước ở châu Âu đã từ bỏ chế độ dân chủ để đi theo chế độ chuyên chế thiên hữu, dưới hình thức này hay hình thức khác. Năm 1922, nước Ý, đồng minh quân sự của Đức, đã trở thành nhà nước phát xít đầu tiên. Hungary, Romania, Bulgary đã rơi vào vùng ảnh hưởng của Đức bởi các hứa hẹn về thương mại và lãnh thổ. Tháng 3.1938, Áo bị sát nhập vào Đức mà không một cường quốc nào lên tiếng bênh vực. Thậm chí đến tháng 9.1938, các cường quốc (Pháp, Ý, và Vương quốc Anh dưới sự lãnh đạo của Nevill Chamberlain) đã bắt tay với nước Đức quốc xã để cắt một phần đất của Tiệp Khắc. Hè năm 1939 Liên bang Xô viết ký hiệp ước liên minh với nhà nước Đức phát xít, và Hồng quân, theo thỏa thuận của cuộc chơi với Wehrmacht – lực lượng vũ trang quân đội Đức quốc xã – đã đổ bộ vào Ba Lan. Chính phủ Ba Lan quyết tâm chiến đấu và hoạt hóa các hiệp ước mà đã kéo cả Vương quốc Anh và Pháp vào cuộc chiến. Mùa xuân 1940, được Xô viết cung cấp lương thực và chất đốt, Đức đã nhanh chóng tấn công và đánh chiếm được Nauy, Hà Lan, Bỉ và thậm chí cả Pháp. Vào cuối tháng 5, đầu tháng 6.1940, phần còn lại của đội quân thám thính của Anh tại lục địa Âu được rút về Dunkerque.

Tháng 5.1940, khi Winston Churchill lên làm Thủ tướng, Vương quốc Anh hoàn toàn đơn độc. Họ không có chiến thắng nào đáng kể, và chẳng có đồng minh quan trọng nào để có thể trông cậy. Người Anh đã bước vào cuộc chiến để hỗ trợ Ba Lan, và điều đó dường như sẽ thất bại hoàn toàn. Tại lục địa Âu, Đức quốc xã và Xô viết đang là đồng minh và cùng thống trị. Tháng 11.1939, Liên bang Xô viết tấn công Phần Lan, và mở màn bằng việc ném bom Helsinki. Ngay sau khi Churchill nhận nhiệm sở, Liên bang Xô viết đã chiếm và sát nhập 3 nước Baltic là Estonia, Latvia và Litva. Hoa Kỳ lúc đó chưa tham gia chiến tranh.

Adolf Hitler không có hận thù gì đặc biệt với nước Anh hay là đế quốc Anh, thậm chí ông ta còn hình dung rằng người Đức và người Anh sẽ cùng chia thế giới ra các vùng ảnh hưởng. Ông ta cho rằng, Churchill sẽ chấp nhận đàm phán sau khi nước Pháp thất thủ. Nhưng điều đó đã không xảy ra. Churchill đã tuyên bố với người Pháp “cho dù các bạn giữ thái độ như thế nào đi chăng nữa, chúng tôi sẽ chiến đấu, chiến đấu và tiếp tục chiến đấu”.

Tháng 6.1940 Churchill phát biểu trước Quốc hội Anh “Cuộc chiến đấu để giải cứu nước Anh bắt đầu”. Không quân Đức bắt đầu ném bom các thành phố của Anh. Hitler trông đợi, chiến dịch này sẽ buộc Churchill phải ký hòa ước. Ông ta đã nhầm. Sau này, Churchill đã coi quãng thời gian của các trận không kích này là “quãng thời gian, mà sống hay chết đều tốt đẹp như nhau”. Ông nói về “tính bất khuất của người Anh, mà ông được vinh dự làm người phát ngôn”. Trong thực tế, ông chính là người đã góp phần lớn công sức để người Anh được ghi nhận như một dân tộc hiên ngang đã bình thản đứng lên đương đầu với cái ác. Một chính trị gia khác có lẽ sẽ dễ dàng tìm được sự ủng hộ của công luận tại Anh để kết thúc chiến tranh. Churchill thì không chịu đầu hàng, ông truyền nhiệt huyết tới người dân và chiến thắng. Các đội bay của Không quân Hoàng gia - Royal Air Force (bao gồm cả hai đội bay Ba Lan và nhiều phi công đến từ các nước khác) đã giữ chân được lực lượng không quân của Đức. Không làm chủ được không phận thì cuộc tấn công nước Anh trên cả hai mặt trận là điều không thể hình dung nổi với chính Hitler.

Churchil hành động, trong khi những người khác thì ngồi yên. Ông không chấp nhận thái độ ngay từ đầu đã đầu hàng, ngược lại, ông đã buộc Hitler phải thay đổi kế hoạch. Chiến thuật cơ bản của nước Đức là hạn chế sự phản công ở phương Tây, để rồi đánh lén Liên bang Xô viết và chiếm các vùng phía Tây của nó làm thuộc địa. Vào tháng 6.1941, trong điều kiện chiến tranh vẫn tiếp diễn tại Anh, nước Đức đã tấn công người đồng minh xô viết.

Vì thế, Berlin buộc phải chiến đấu trên cả hai mặt trận và một cách không ngờ, Moscow trở thành đồng minh của London. Tháng 12.1941, Nhật hoàng ném bom căn cứ của Hoa Kỳ tại Pearl Harbor, Hawai, và Hoa Kỳ tham chiến. Moscow, Washington, London hợp thành một liên minh không thể nào tiêu diệt nổi. Bên nhau – và cùng nhiều đồng minh khác nhỏ hơn, ba cường quốc này đã chiến thắng thế chiến thứ II. Nếu như vào năm 1940 Churchill  không giữ nước Anh tham chiến, thì sẽ chẳng có lý do phải chiến đấu vì cái gì…

Churchill đã tuyên bố lịch sử sẽ rộng lòng với ông, bởi ông quyết tâm tự mình viết nên lịch sử - tuy nhiên trong các dẫn giải  bao quát, đầy tính lịch sử và trong các hồi ức, ông đã nói đến tất cả các quyết định của mình như những gì là tất yếu và mọi chiến công, ông đều vinh danh cho nhân dân và các đồng minh của nước Anh. Từ góc nhìn của ngày hôm nay, việc làm của Churchill có thể là bình thường. Nhưng trong thời điểm đó ông đã phải bước ra khỏi đám đông.

Nước Anh tham chiến chỉ bởi vì vào tháng 9.1939 chính phủ Ba Lan quyết tâm sẽ chiến đấu. Cuộc chống cự trực diện, có vũ trang của Ba Lan đã bị dẹp vào tháng 10.1939. Ngay trong năm 1939, người ta đã biết sự chiếm đóng của Đức quốc xã tại Varsava sẽ có đặc tính gì.

Teresa Prekerowa năm ấy lẽ ra phải tốt nghiệp trung học. Gia đình cô bị quân Đức tịch thu hết tài sản, cô phải đi ra khỏi Varsava và sống tại nhà trọ, cha cô bị bắt, một người chú của cô hy sinh, hai người anh bị giam giữ trong trại tù binh của Đức. Varsava bị tàn phá nặng nề trong các đợt không kích của Đức, có khoảng 25 000 người tử vong.

Trong hoàn cảnh kinh hoàng ấy cô gái trẻ Teresa hành xử khác với các bạn bè và họ hàng của mình. Khi mà bình thường người ta chỉ nghĩ đến mình, thì cô nghĩ đến người khác. Trong khoảng nửa sau của năm 1940, quân Đức bắt đầu thiết lập Ghetto tại Ba Lan. Vào khoảng tháng 10 năm ấy, người Do Thái tại Varsava và vùng lân cận nhận được lệnh phải chuyển đến một quận nhất định trong thành phố. Một trong những người anh của Teresa trước chiến tranh có đi lại với một cô gái Do Thái và gia đình của cô. Nay Teresa nhận thấy mọi người lẳng lặng quay lưng lại những người bạn Do Thái của mình.

Chẳng nói gì với gia đinh, và với rủi ro rất lớn cho chính mình, Teresa đã nhiều lần thâm nhập vào ghetto Varsava với thực phẩm và thuốc cho những người Do Thái mà cô biết. Và cho cả những người cô không hề quen biết. Cuối năm đó, cô thuyết phục được người bạn gái của anh bỏ trốn. Năm 1942, cô giúp gia đình cô ấy và một người anh trốn trại. Mùa hè năm ấy, quân Đức thực hiện cái gọi là Grosaktion Warschau, trong chiến dịch này họ trục xuất 265 040 người dân từ Ghetto đến cỗ máy giết người hàng loạt tại Treblince và 10 380 người đã bị giết hại tại chỗ. Teresa đã cứu được một gia đình thoát khỏi cái chết cầm chắc trong tay.

Sau này Teresa Prekerowa bắt đầu nghiên cứu sâu về holocaust một cách hàn lâm và bà đã viết các bài báo mang tính chuyên môn về ghetto tại Varsava và về cả những người khác đã cưu mang người Do Thái. Nhưng bà chẳng viết về mình. Nhiều năm sau, khi người ta đề nghị bà nói về cuộc sống của chính bà, thì bà coi những hành động này là những điều bình thường. Từ góc nhìn của chúng ta, cách hành xử của bà là gì đó thật phi thường. Bà cũng đã bước ra khỏi đám đông.

Người dịch: Thanh Mai   

Ảnh trong bài: Nếu không ghi thêm, tất cả các ảnh trong bài này chỉ mang tính minh họa và có bản quyền như nguồn tin gốc đã đưa.

 

Booking.com
Tiêu điểm

Thảo luận

Quảng cáo