Chuyện phiếm

Mùa đông...

Cập nhật lúc 13-12-2011 20:02:13 (GMT+1)
Nhà tù. Hình minh họa.

 

Nếu phải đi tù, tốt nhất nhất đừng đi vào mùa đông. Mùa đông  Bắc Việt Nam lạnh khủng khiếp. Tôi từng đứng  trong cái giá lạnh âm 23 độ của Bắc Âu, tuyết ngập ngang đầu gối.


Nhưng ở Châu Âu nhà nào cũng có lò sưởi, trên xe ô tô cũng có máy làm hơi nóng. Quần áo ấm, giày da lót lông cao cổ. Chỉ mỗi cái mặt phơi ra với không khí là thấy lạnh.

Mùa đông miền Bắc ẩm ướt. Khí lạnh theo hơi ẩm len lỏi vào trong từng nếp áo như gai đâm. Nhà tù thường trống cửa sổ song sắt để quản giáo đứng bên ngoài dễ quan sát tù bên trong. Sàn xi măng chạm tay vào giật mình vì cảm giác sờ phải đá. Hàng ngày lao động tại hiện trường bốn bề là gió, mưa. Vác đất dưới ao lên nhào làm gạch, đội than ở xà lan bến sông gió quất từng cơn như cắt thịt. Chai tay cuốc trên cánh đồng khô cằn, đất vón vào nhau như đá, cuốc nảy chồn tê buốt cánh tay. Những bước chân khụy ngã vì sọt đá trên lưng, đầu gối đập nền đất đá lổm nhổm. Lao động nặng nhọc thì khó mà mặc quần áo dày, tù thường chỉ manh áo mỏng để vật lộn với mức khoán quản giáo giao cho...động cơ để  tù vượt qua không phải là gì xa xôi mà chỉ là gắng nghĩ đến khi trời tối, được lê tấm thân về buồng giam, rã rời từng khớp. Nằm ngửa trên tấm chiếu rách thiếp lịm đi mươi phút trước giờ điểm danh tối. Sợ nhất là bẩn, ngày làm ngoài núi đá, lò gạch, bến xa lan người lấm lem đất, đêm nằm nhớp nháp. Nghiến răng dùng chút nghị lực cuối cùng trong ngày để dội lên mình từng gầu nước lạnh. Tắm xong thì bữa cơm tối nghèo nàn cũng tiêu tan. Không tắm thì mất ngủ vì bẩn, tắm xong mất ngủ vì đói.

Rét mướt cũng làm người thân khó khăn trong việc đi thăm. Mùa rét cũng là gần Tết ,lúc cuối năm công việc của người thân ngoài xã hội cũng tất bật, bận rộn. Mùa đông nằm ở trại tạm giam còn đỡ, mùa đông ở trại cải tạo là mùa nhọc nhằn nhất của người tù. Những người tù có kinh nghiệm thường làm mọi cách để trốn qua được mùa đông nào hay mùa đông ấy bằng cách nằm trạm xá, hoặc trì hoãn thời gian từ trại tạm giam đến trại cải tạo. 

Vào tù từ mùa hè hay mùa thu có được quãng thời gian quan trọng là bắt nhịp dần với cuộc sống trong tù, tích lũy được sự quen biết của bạn tù. Kiếm chác , binh tình ( mua bán, trao đổi) được chỗ nằm, được chăn màn, quần áo hoặc kế thừa của bạn tù ra trại những đồ đạc, vật dụng hữu ích cho công cuộc cải tạo  chóng làm người lương thiện dưới chế độ CNXH vinh quang.

Nên những tay anh chị bị truy nã, ít khi ra đầu thú vào mùa đông. Bởi mùa đông là mùa cải tạo khó khăn nhất của đời tù, không nên bắt đầu công cuộc cải tạo vào một mùa khắc nghiệt như thế.

Nguồn: Nguoibuongio

1. Từ Nhà Tù Thực Dân Anh Đến Nhà Tù Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Ôi! Đất nước sa cơ.
Phùng Cung

Nhân đọc cuốn tiểu sử “Nehru: A Political Life” của Judith M. Brown, chúng tôi xin ghi lại đây ít điều về nhà tù của chế độ thực dân Anh qua đời tù của Nehru, và nhân đó so sánh với nhà tù của chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

I. Nhà tù thực dân Anh
Sau vụ lính Anh bắn chết 400 người dân Ấn trong cuộc biểu tình chống một đạo luật cấm dân Ấn chống chính quyền Anh tại công viên Jallianwalla Bagh (1919), luật sư Jawaharlal Nehru và cha ông là luật sư Motilal Nehru nhận ra sự tàn bạo của đế quốc Anh. Từ đó hai người từ bỏ nếp sống Anh, và trở thành những người tiền phong trong phong trào đấu tranh bất bạo động do Mohandas Gandhi đề xướng. Vì thế từ năm 1920 đến 1947, là năm Đế quốc Anh trao trả độc lập cho Ấn Độ, Nehru đã tham dự hầu hết những chiến dịch phản kháng chống lại những đạo luật áp chế của thực dân Anh và đã bị kết án tù nhiều lần với những bản án tù dài ngắn khác nhau. Trong thời gian 27 năm đó, ông đã bị tù tất cả là 10 năm. Sau đây là đời tù của Nehru:

1. Những án tù:

Cuối năm 1921 Jawaharlal Nehru bị tù lần đầu và được phóng thích tháng 3 năm 1922. Tới tháng 5, ông tham dự việc làm hàng rào cản bán y phục ngoại quốc ở Allahabad và bị kết án tù trở lại.

Trong phong trào chống luật muối năm 1930, Nehru bị tù tại nhà tù Naini, Allahabad và được tha tháng 10 năm 1930.

Trong chiến dịch vận động đòi độc lập, ông bị bắt lại ngày 19 tháng 10 năm 1930 và án tù này chỉ dài 3 tháng 5 ngày.

Rồi sau đó cũng trong những chiến dịch đấu tranh đòi độc lập từ 1931 tới 1941 ông bị bắt hai lần với 5 năm tù. Cuối cùng là bản án 3 năm từ 1942 tới 1945.

2. Đời sống trong tù

Theo luật của chính quyền Anh chính trị phạm được giam phân cách với tù hình sự và được đối xử tốt hơn, nên từ án tù đầu tiên đến án tù cuối cùng, Nehru đã có thể làm được những việc sau:

Tập thể dục: Nehru cố gắng giữ sức khỏe trong tù qua việc tập thể dục bằng cách chạy ở đâu có thể chạy, chơi bóng chuyền nếu có đủ bạn tù chính trị, kéo nước từ giếng và tập thở. Là thành viên của phong trào Gandhi, tẩy chay vải, y phục ngoại quốc, ông đã đem theo guồng quay sợi (spinning-wheel) và mỗi ngày ông đã quay chỉ bông trong khoảng từ 2 tới 4 giờ. Trong lần tù đầu tiên, chỉ trong một tháng, ông đã quay 92 giờ và sản xuất 9394 yards sợi bông.

Trong năm 1934, ông đã đi bộ khoảng 6 miles một ngày trong khuôn viên nhà tù Alipur.

Ở những nhà tù cho phép làm vườn, ông có thêm một việc nữa là làm đất trồng hoa. Chẳng hạn như ở nhà tù Dehra Dun, ông đã biến một phần sân nhà tù thành vườn hoa với sự trợ giúp của giám thị và những người bạn tù.

Ngoài việc làm vườn, ông đã cố gắng giữ thành tích quay sợi, vì thế chỉ trong 9 tháng ở Dehra Dun, ông đã quay được 112.500 yards sợi bông.

Đọc sách: Ngay thời tù lần đầu, Nehru đã trở về với đời sống trí thức và đọc nhiều. Ông nhận được 130 cuốn và nhiều tạp chí định kỳ, hầu hết bằng tiếng Anh, chỉ một ít bằng tiếng Hindi, bao gồm những sách về lịch sử Ấn Độ, Âu châu, chính trị mới, những bộ sách lớn về thơ nước Anh gồm Wordworth, Shelly, Byron và Tennyson, kịch Shakespeare, tiểu luận của Tolstoy, tác phẩm của Ruskin và tác phẩm Decline and Fall của Gibbon.

Ở nhà tù Naini, Allahabad năm 1930, ông chỉ được phép giữ 6 cuốn một lần. Sự hạn chế này gặp rắc rối đối với những bộ sách nhiều tập, nhưng giám thị đã giải quyết cho phép ông gửi những cuốn khác trong văn phòng giám thị. Và ở đây ông đã đọc khoảng 40 cuốn gồm một số sách tiếng Pháp, kịch Shakespeare. 2 tập World Crisis 1916-18 của Churchill, 2 tập Decline of the West của Spenglers, một cuốn về Quốc Dân Đảng và Cách Mạng Trung Hoa.

Ở nhà tù Dehra Dun từ 1934 đến 1935, ông đọc 188 cuốn, trung bình từ 15 tới 20 cuốn trong một tháng. Phần lớn là sách lịch sử và chính trị, trong đó có một cuốn về kế hoạch phát triển ngũ niên thứ nhì của Liên Bang Sô Viết. Ngoài sách chính trị, ông cũng đọc những vở kịch hiện đại, một số lớn tác phẩm cổ điển như War and Peace của Tolstoy, một số văn chương nhẹ hơn gồm những tác phẩm của P.G Wodehouse và Alice Throu the Looking Glass của Lewis Caroll, và tập tiểu thuyết Ấn Độ mới Untouchable của Raj Anand. Số sách này, một phần ông đã bắt gặp ở thư viện nhà tù, còn phần lớn do gia đình và bạn bè gửi hay đem đến.

Viết sách: Trong thời gian ở tù, ngoài việc đọc sách, Nehru còn viết mấy tác phẩm có giá trị lớn:
Năm 1933, xuất bản “Wither India?” tuyển tập những bài viết trong tù đã đăng báo.

Năm 1935 xuất bản “Glimpses of World History”, tuyển tập những bức thư viết cho con gái là Indira Gandhi.

Từ năm 1934 tới 1935, viết Autobiography: Toward Freedom. Tác phẩm này được viết, theo như ở Lời Tựa, là để tiêu khiển trong tù, đồng thời duyệt lại những biến cố ở Ấn Độ để ông có thể nhận định rõ về những biến cố này, và từ đó có thể đánh giá về sự phát triển trí não của mình. Sách được xuất bản ở Luân Đôn năm 1936 và nhận được sự đón nhận nồng nhiệt ở Anh cũng như ở Ấn.

Trong án tù dài nhất từ tháng 8-1942 tới tháng 6-1945, ông đã viết tác phẩm quan trọng nhất là The Discovery of India, gồm 1000 trang viết tay, bàn về nhiều vấn đề như: Lịch sử Ấn Độ, phong trào quốc gia và kinh nghiệm chính trị của Ấn trong thế chiến thứ nhì, tôn giáo và khoa học, bản chất cốt tủy của Ấn và dân Ấn, tương lai của văn hóa và chính thể Ấn Độ…

3. Sau những án tù

Năm 1923, mãn hạn tù, Nehru trở lại hoạt động trong tổ chức Indian National Congress và được bầu làm Chủ Tịch Hội Đồng Thành Phố Allahabad. Đến cuối năm 1925, theo lời khuyên của bác sĩ Anh Spawson và mấy bác sĩ Ấn, ông đã đưa vợ ông là bà Kamala, bị bệnh phổi, sang Thụy Sĩ chữa trị và đã ở lại Âu Châu gần 2 năm. Trong thời gian này ông đã có dịp tham dự nhiều sinh hoạt chính trị ở Geneva và đã nghiêng về tư tưởng chính trị tả phái khi ông đại diện National Congress tham dự Nghị Hội Brussels tháng 2-1927, một Nghị Hội chống lại chủ nghĩa đế quốc và áp bức thuộc địa. Ở đây, ông đã gặp nhiều đại diện của những quốc gia đã nhận diện ảnh hưởng của chủ nghĩa đế quốc Âu Châu ở Mỹ La Tinh, Trung Đông, Châu Phi , Đông Nam Á và Trung Hoa. Sau đó ông có dịp đi thăm Moscow cùng với cha ông, luật sư Motilal, đã đến Nga từ Ấn. Hai cha con ông được mời dự lễ kỷ niệm đệ thập chu niên cách mạng Nga, xem trình diễn ở nhà hát Bolshoi, coi phim về cách mạng, thăm nhà tù và bộ giáo dục cùng xác ướp của Lenin ở điện Kremlin.

Trở về nước cuối năm 1927, Nehru hy vọng đi vào đời sống nông thôn để thử nghiệm tổ chức nông thôn và tìm cách đi vào tinh thần của nông dân Ấn. Nhưng ông lại bị cuốn vào hoạt động chính trị của National Congress và tháng 7-1929 được bầu làm chủ tịch Congress. Việc đầu tiên của ông ở chức vụ chủ tịch là đưa ra nghị quyết đòi một nền độc lập hoàn toàn cho Ấn Độ trên phương thức đấu tranh bất bạo động.

4. Tù nhân với cái chết của thân nhân

Tháng 4-1930, hai cha con Nehru bị bắt trong phong trào chống đạo luật độc quyền làm muối của chính quyền Anh và cùng bị giam tại nhà tù Naini. Tới tháng 9, Motilal bị bệnh nặng được chuyển tới Mussoorie để chữa bệnh, rồi sau đó được phóng thích. Vào cuối tháng giêng năm 1931, Motilal trở bệnh và bệnh tình nguy kịch, nên Nehru được tha để về phục dịch cha ông vào lúc lâm chung.

Năm 1935, bệnh phổi của bà Kamala lại tái phát nặng và bà được con gái là Indira Gandhi đưa sang Lausanne, Thụy Sĩ để chữa trị. Nhưng lần này bà đã không qua khỏi và mất ngày 28-2-1936. Cũng như lần trước đối với cha, lần này Nehru cũng đã được ra khỏi nhà tù Naini trước thời hạn để bay qua Thụy sĩ, kịp thời có mặt bên cạnh Kamala trước khi bà nhắm mắt.

5. Thăm chính trị phạm

Đời tù của Nehru liên hệ nhiều đến Mohandas Gandhi nên xin kể thêm một chuyện thăm Gandhi ở nhà tù Poona trong tác phẩm “Indira Gandhi: Daughter of India” của Dommermuth Costa:

Vào tháng 8-1932, Mohandas Gandhi đã ở tù 10 tháng tại nhà tù Poona. Việc đi tù của ông đã trở thành bình thường vì ông liên tục bày tỏ và đấu tranh cho một chân lý: Ấn Độ Của Người Ấn Độ. Từ xác tín này, ông đã dùng mọi cơ hội để nói lên quan điểm của mình và làm mọi cách, ngay cả hy sinh thân mình để bắt người Anh phải nghe điều ông nói. Và từ đó mà ông bị án tù liên tục. Tháng 9-1932, chính quyền Anh ban hành đạo luật Communal Award qui định những ghế đại biểu được dành riêng và qui định những cộng đồng tôn giáo gồm Hindus, Sikhs, Christians và Muslims chỉ có thể bầu cho người cùng tôn giáo để đại diện họ trong Viện Lập Pháp. Gandhi thấy đây là một thứ luật người Anh vận dụng để tạo thêm sự chia rẽ trong xã hội Ấn Độ. Vì thế từ trong nhà tù ông tuyên bố là sẽ tuyệt thực cho tới chết nếu chính quyền không thay đổi đạo luật.

Từ nhà tù, Nehru viết thư cho con gái là Indira biết việc Gandhi tuyệt thực và nói lên nỗi buồn và sợ là ông có thể mất người chỉ đạo, người thầy tâm linh, cùng sự bất lực của ông khi thấy mình không thể làm gì. Do đó, Indira quyết định tự mình hành động. Cô tập họp bạn ở trường, nói về tình trạng của Gandhi và đám trẻ đã tổ chức tuyệt thực một ngày, từ sáng hôm trước đến sáng hôm sau để nói lên sự đồng lòng với việc tuyệt thực của Gandhi.

Sau đó Indira đã quyết định cùng với 3 chị em họ đi thăm Gandhi vì nhà tù giam Gandhi chỉ cách trường vài dặm. Khi tới nhà tù, Indira nói với người gác, cô là con gái của Nehru và xin được thăm Gandhi. Giám thị nhà tù ngạc nhiên, nhưng đã vui vẻ dẫn mấy chị em vào trại tù. Trong phòng giam, cô đã ngồi trên nền nhà với Gandhi và báo cho ông biết việc tuyệt thực của học sinh và thưa với ông là tất cả đã cầu nguyện cho ông. Gandhi rất vui trước việc tới thăm của mấy chị em Indira và những nỗ lực của học sinh trường Poona. Bốn ngày sau, Gandhi chấm dứt tuyệt thực vì chính quyền, dưới áp lực của dân Ấn, đã rút lại phần lớn những điều khoản trong đạo luật đã gây ra sự phản kháng.

II. Nhà tù Xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Việt Nam dưới chế độ xã hội chủ nghĩa có nhiều nhà tù, có lẽ tỉnh và thành phố nào cũng có nhà tù. Ở đây xin đi theo mấy tù nhân chính trị vừa mới bị kết án tù để biết qua về nhà tù giam những vị này.

1. Đi theo linh mục Nguyễn Văn Lý

Linh mục Nguyễn Văn Lý bị kết án 8 năm tù tại tòa án Huế ngày 30-3-2007, và bị đưa ra nhà tù Ba Sao, Nam Hà. Trước đây, từ 2001 đến 2005, cha Lý đã ở trại tù này. Hiện tại cha Lý bị nhốt tại một khu nhà có 4 phòng, giờ chỉ có mình cha, trong một khuôn viên khoảng 400m2. Cha Lý bị cấm liên lạc thư từ, không được giữ một cây bút, một mảnh giấy. Đến Cuốn sách kinh nhật tụng, cha luôn mang theo để đọc mỗi ngày, trại cũng tịch thu.

Ngày 5-9-2007, cha Lý được linh mục Phêrô Trần Văn Quý, thành viên Hội Đồng Nhân Dân Thành Phố Huế và Hội Đồng Nhân Dân Tỉnh Thừa Thiên, và linh mục Phanxicô Xavie Hồ Văn Uyển, quản lý Nhà Chung Tổng Giáo Phận Huế, đến thăm và việc gặp mặt đã diễn ra như sau theo diễn đàn Tự Do Thông Tin Ngôn Luận Việt Nam online:

“Trong phòng thăm gặp có một bàn hình chữ nhật, hai vị linh mục khách ngồi một bên, bên kia là cha Lý và một cán bộ trại giam, trong góc có một cán bộ khác ngồi ghi chép mọi lời trao đổi, trên tường hai camara quay từ đầu đến cuối mọi lời nói cử chỉ, đang khi đó bên ngoài có hai công an khác đi qua đi lại canh giữ. Chỉ đến gần cuối buổi, khi cha Lý xin cha Uyển ban phép cáo giải (xưng tội và tha tội) thì các cán bộ mới dạt ra xa một chút”.

Ngày 12-10-2007, bà Nguyễn thị Hiếu cùng cô Minh, em họ của linh mục Nguyễn Văn Lý, từ Đồng Nai và Thừa Thiên đã đến thăm cha Lý. Sau đây xin trích mẩu đối thoại giữa cha Lý và bà Hiếu từ diễn đàn Tự Do Thông Tin Ngôn Luận:

- Chú có biết, bà Hiếu buột miệng, là hình chú bị bịt miệng đã bay khắp thế giới không?

- Em có biết, biết rất rõ. Em đã dự đoán tình huống ấy nên trong báo Tự Do Ngôn Luận do em và mấy cha bạn làm, ngay từ số 2 đã có hình một người bị bịt miệng và bịt mắt. Đó là bản chất của chế độ này. Và em là bằng chứng. Nhưng họ làm thế chỉ hữu hiệu với ai sợ họ, còn đối với ai không sợ thì việc đó vô ích. Đúng là vẫn còn nhiều người sợ họ, cụ thể là không dám nhận tờ Tự Do Ngôn Luận do chúng em phát hành. Tuy nhiên, tờ báo đó vẫn phổ biến khắp cả Việt Nam, từ Lạng Sơn, Hà Nội vào tới Sóc Trang, Cần Thơ.

Ông Triết, ông Dũng mới rồi ra ngoại quốc, nói với thế giới là tại Việt Nam không có tù nhân chíng trị! Sao mà không có? Bằng chứng là Nguyễn Văn Lý này đây, là nhiều chiến sĩ dân chủ khác đang bị giam khắp cả Việt Nam đây. Em sẽ ở mãi trong tù cho đến khi nhà nước công nhận là họ có giam giữ tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm.

- Các Đức Giám Mục đang họp tại Hà Nội, chú có biết không?

- Thôi đừng nhắc tới các ngài nữa. Các ngài cứ làm việc của các ngài, cứ theo lương tâm và trách nhiệm mục tử mà làm. Nhân đây xin nhắc lại chuyện là hai cha hôm nọ (cha Quý và cha Uyển) đến thăm em mà khơi khơi mang một chai rượu lễ và một bao bánh lễ, rồi khơi khơi thông báo với trại. Trong tù ai mà cho uống rượu, nên trại đã giữ lại mà không cho em nhận. Em có nói với ông Nam đây là hôm nay hãy trả lại chai rượu nho ấy để chị mang về mà sao chẳng thấy ông ấy mang ra (cán bộ Nam ngồi im lặng).

- Chắc cha Quý nghĩ mình là thành viên Hội Đồng Nhân Dân nên có thế giá, sẽ được nể nang.

- Hừ! Nhà nước này có nể nang ai đâu. Lại càng không nể nang những ai theo họ, làm việc cho họ, thỏa hiệp với họ. Có nể trọng chăng là nể trọng những người dám đương đầu với họ thôi.

- Chú vẫn nhận được quà gia đình gửi qua bưu điện chứ? Gia đình hỏi thế là vì không thấy chú hồi âm. Từ ngày chú đi ở tù lần này, gia đình chỉ nhận được một lá thư.

- Em vẫn nhận được quà gia đình gởi qua bưu điện, và lần nào cũng xin trại cho giấy và mượn bút để hồi âm, nhưng không hiểu sao thư chẳng tới. Có thêm chuyện nữa, sao gia đình chỉ đề trên quà là “Gởi ông/anh Nguyễn Văn Lý” mà không đề là “Gởi linh mục Nguyễn Văn Lý”.

- Đề như thế, bưu điện nó đâu có cho gởi, nó đâu có chuyển. Nhà nước ta đâu có giam giữ các nhà tu hành! À, trại đã cho chú nhận sách nguyện để đọc kinh chưa?

- Chưa. Giấy bút còn chưa cho giữ, huống chi là sách nguyện. Họ chỉ cho đọc báo Pháp Luật mà gia đình đã gởi thôi. Vì em vẫn trong tình trạng biệt giam hoàn toàn. Phòng thì có lót gạch men lại, để khoe với phái đoàn nào đó sẽ đến thăm. Nhưng tới giờ vẫn chưa thấy ai cả.

2. Đi theo luật sư Lê Thị Công Nhân

Trong phiên tòa phúc thẩm xử vụ án hình sự “tuyên truyền chống nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” tại Tòa Án Nhân Dân Hà Nội ngày 27-11-2007, luật sư Lê Thị Công Nhân được giảm án 1 năm tù, còn 3 năm (Bản án sơ thẩm ngày 11-5-07 là 4 năm) và được đưa trở lại trại tạm giam ở Hà Nội. Tại đây, ngày 27-12 Công Nhân đã tuyệt thực để phản đối chính sách đối xử cũng như điều kiện ăn ở trong trại giam. Đến ngày 3-1-08, Công Nhân đã được chuyển từ Hà Nội tới trại số 5 ở Thanh Hóa. Bà Trần Thị Lệ, mẹ của luật sư Công Nhân, qua cuộc phỏng vấn của đài RFA, đã cho biết một số điều về đời sống trong tù của Công Nhân như sau:

1. Công Nhân đã tuyệt thực vì 2 lý do: Thứ nhất là ở trại giam có nhiều người bị tiêu chảy do thức ăn không bảo đảm vệ sinh, nên cô không ăn. Thứ nhì là vì sau phiên tòa phúc thẩm, những phạm nhân cùng phòng với Công Nhân gồm 38 người được quản giáo kêu từng người đi làm việc, rồi hẳn là theo lệnh quản giáo nên đã tìm cách hạ nhục để trấn áp tinh thần Công Nhân bằng cách chửi bới Công Nhân là đồ phản động, phản quốc cùng nhiều lời lẽ khác.

Sang trại số 5, Công Nhân vẫn tuyệt thực, vì ở đây Ban Giám Thị trại đã tịch thu cuốn kinh thánh do Ủy Ban Quốc Tế Hoa Kỳ Về Tự do Tôn Giáo tặng Công Nhân trong lần thăm Công nhân trong nhà tù hồi tháng 10-07, với sự đồng ý của ông Nguyễn Văn Hưởng, Thứ trưởng Bộ Công An đi cùng với phái đoàn. Tới ngày 7-1, theo lời khuyên của mẹ, Công Nhân mới ngưng tuyệt thực.

2. Tình trạng ăn ở trong trại K4/5:

- Về thực phẩm, ngày được 2 bữa cơm, thức ăn chỉ có canh rau, một tuần được vài miếng thịt.

- Về chỗ ở, phòng giam 60 người, mỗi người được một khoảng diện tích bề ngang 80cm, bề dài 220cm.

- Trại K4, là trại nhốt tù nữ, chỉ có một cái giếng sâu tới mấy chục mét, lại không có phòng tắm. Ai cần tắm thì ra giếng, kéo nước lên tắm ở ngoài trời.

3. Nói thêm về nhà tù Hỏa Lò:

Tại nhà tù Hỏa Lò, Hà Nội, nơi giam Công Nhân sau bản án sơ thẩm (11-5-07), Công Nhân đã không có dịp nói nhiều về nơi này. Nhưng qua bài “Tết này em không về” của nhà văn Trần Khải Thanh Thủy viết để nói với Công Nhân, trên diễn đàn Đối Thoại online (2/13/08) bà đã ghi lại ít điều về nơi đã giam Công Nhân như sau:

“Trại Hỏa Lò nơi em ở, vốn khét tiếng vì sự độc ác, tối tăm, chật chội và hắc ám, nơi nạn bạo hành, trấn cướp vẫn diễn ra hàng ngày, nơi người với người tranh giành nhau từng miếng ăn, chỗ ở, chỉ vì nạn đất chật người đông, kỷ cương pháp luật buông thả, nên mỗi năm ba ngành tòa án, công an, viện kiểm soát phải đảm bảo chỉ tiêu 6000 người “nhập khẩu”, vì vậy mỗi người chỉ được vẻn vẹn 60cm để nằm trong một không gian chật chội 40 người một phòng 30m2, tha hồ chen chúc giữa cái nắng như nung của bầu trời nhiệt đới, cái lạnh cắt da cắt thịt của mùa đông trong lao hun hút gió lùa. Lúc là chảo rang người khổng lồ, khét lẹt mồ hôi, lúc là nhà đá lạnh lẽo bẩn thỉu, ẩm ướt, tối tăm, nơi ghẻ lở hắc lào là chuyện không có gì phải làm ầm ĩ (mỗi người, mỗi ngày chỉ được chia một chậu nước để tắm rửa, vệ sinh), cũng là nơi đau ốm không được chăm sóc. Sự xỉ nhục, đánh đập của cán bộ quản giáo đối với tù nhân xảy ra như cơm bữa”.

3. Đi vào nhà tù của Lực Lượng Thanh Niên Xung Phong TP Hồ Chí Minh

Ngoài những nhà tù chính danh như Lao Thừa Phủ ở Huế, Khám Chí Hòa, trại tù Phan Đăng Lưu ở Sài Gòn, Thanh Liệt ở Hà Nội, Ba Sao ở Nam Hà, Trại 5 ở Thanh Hóa…, đến nay chế độ XHCNVN vẫn duy trì một loại nhà tù rất tàn độc, nhưng lại mang mỹ danh là Trường Trại, như trại cải tạo giam quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa sau 1975, để giam những thành phần tệ đoan xã hội như xì ke ma tuý, mại dâm và những người lang thang vô gia cư. Theo ông Huyền Trọng trong bài “Thủ Phạm Của Những Mảnh Đời Rách Nát” trên diễn đàn Thông Luận online (1-11-08), thì chỉ Lực Lượng Thanh Niên Xung Phong Tp Hồ Chí Minh đã có 8 trường trại mà ông gọi là “Lò Sát Sinh Không Ai Biết”. Trong đó mỗi trường có sức chứa từ 2.500 đến 3.000 người, nên có lúc cao điểm, con số họ giam giữ lên đến gần 30.000 người.

Những trường trại này có mấy đặc điểm như sau:

a. Giam giữ người nghiện ma túy, gái mại dâm và những người lang thang vô gia cư trong một thời hạn ít nhất là 5 năm, nhưng không hề được thông qua một phiên tòa xét xử.

b. Tù nhân chịu nhiều nỗi oan khiên, vì nhiều người bị bắt vào đây không nghiện, không mại dâm, không sống lang thang, nhưng kêu oan thì không cơ quan nhà nước xem xét giải quyết.

c. Tù nhân trong trại bị suy kiệt và chết dần vì kinh phí ít và y tế yếu kém.

d. Ban chỉ huy trại hầu như cấm việc chuyển viện để cứu bệnh nhân. Việc chuyển viện chỉ là hình thức để hợp thức hóa cái chết của người bệnh, tức là đợi đến lúc bệnh nhân sắp chết thì cho chuyển viện để rồi gọi là tử vong trên đường chuyển viện, hoặc bệnh nặng quá nên ngay cả các bệnh viện tuyến sau cũng không thể cứu chữa. Họ còn đưa cả việc chuyển viện vào quy chế thi đua khen thưởng. Vì thế, phòng y tế của đơn vị nào chuyển viện ít hoặc không chuyển viện thì được khen thưởng, ngược lại thì bị kỷ luật, cắt thi đua khen thưởng.

e. Bị ngược đãi nên nhiều nạn nhân đã bỏ trốn, nhưng đa phần bị bắt lại và bị đánh đập dã man. Ở trường 4, nạn nhân vượt ngục bị chết đuối nhiều trên sông Bé, tỉnh Bình Dương. Nhiều nạn nhân đã treo cổ tử tử như tù nhân nữ ở trại 3, trại 4, tù nhân nam ở trại 2, ở Cần Giờ, tổng đội 1.

f. Trường trại trở thành phương tiện để đục khoét, tham nhũng theo phương cách:

- Nâng thời gian giam giữ từ 2 năm lên 5 năm.

- Rút ruột và nâng giá những công trình xây dựng: Thí dụ như việc đổ đất đỏ sửa lại con đường cho Trường 2, chỉ mất khoảng vài chục xe, chi phí chỉ vài chục triệu đồng, nhưng chỉ huy trưởng Lực Lượng Thanh Niên Xung Phong là Nguyễn Văn Hoa đã ký duyệt quyết toán nâng khống lên 800 triệu (năm 2000). Thêm một thí dụ nữa là Lực Lượng Thanh Niên Xung Phong Tp Hồ Chí Minh bày ra công trình “Cụm Công Nghiệp Nhị Xuân” dành cho “người sau cai”. Họ xin cấp hơn 300ha đất và kinh phí đầu tư nhà máy, trường trại, chung cư… để giải quyết việc làm cho “người sau cai”. Nhưng thực chất là lợi dụng chiêu bài này để bòn rút kinh phí và chia chác đất đai với nhau.

III. Nghĩ gì

Trên đây là những nét biểu hiện trong chính sách nhà tù của chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, từ nhà tù chính danh như Ba Sao, Trại 5 Thanh Hóa tới nhà tù không chính danh của Lực Lượng Thanh Niên Xung Phong. Thực trạng là như thế, nhưng tại nhà tù Ba Sao, trước khi được gặp Linh mục Nguyễn Văn Lý, Linh mục Trần Văn Quý và Linh mục Hồ Văn Uyển đã được nghe giám thị nhà tù giảng về nền pháp lý rất công minh của nhà nước xã hội chủ nghĩa và chế độ giam giữ tù nhân rất nhân đạo của chế độ.

Sau 1975, chúng tôi đã là tù nhân khổ sai trong nhiều nhà tù có mỹ danh là trại cải tạo và cũng đã được nghe gần như hàng ngày về chính sách khoan hồng nhân đạo của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Thật khó có thể hiểu tính chất khoan hồng và nhân đạo trong đời tù của những người cải tạo mà cũng không biết lấy cái gì làm thước đo, để so sánh về sự khoan hồng nhân đạo này. Vì thế nhân đọc cuốn sách nói về cuộc đời đấu tranh của Nehru, chúng tôi có một số cảm nghĩ như sau:

1. Về nhà tù

Đế quốc Anh chiếm Ấn Độ làm thuộc địa, coi dân Ấn là dân nô lệ mà thực dân Anh vẫn công nhận quyền tự do ngôn luận, lập hội và đối lập của dân Ấn. Do đó mà từ cuối thế kỷ 19, Ấn đã có 500 tờ báo cùng với hai tổ chức chính trị lớn là Indian National Congress, thành lập năm1885, và Moslem League, thành lập năm 1906. Từ đó mà trong đấu tranh chống những đạo luật áp chế của Anh và đòi độc lập, dân Ấn đã bị hạ ngục rất nhiều. Nhưng nhà tù của thực dân Anh có luật pháp phân biệt tù hình sự và tù chính trị. Vì thế, chính trị phạm dù là kẻ thù của thực dân mà vẫn được đối xử theo giá trị của đối lập chính trị. Chuyện này thì đời tù của Nehru, Gandhi và nhiều người lãnh đạo đảng Indian Congress và Moslem League đã nói lên một cách rõ rệt là người Anh chiếm thuộc địa, nhưng vẫn tôn trọng một phần quyền sống tự do của dân bị trị.

Từ đó nhìn lại Việt Nam, chúng ta ngậm ngùi mà nhận rằng sau hơn nửa thế kỷ dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa của đảng Cộng Sản Việt Nam, dân Việt đã được cai trị như một thứ dân nô lệ trên mấy tầng áp bức của chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Chế độ chính trị, kinh tế bất nhân, nhưng phải coi bất nhân là chân lý nên không được phép đối lập chính trị. Xã hội công an trị không cho phép có ý niệm “công dân tự do”. Thân phận người dân nô lệ ở ngoài đời đã không biết công lý xã hội chủ nghĩa là gì thì tìm đâu pháp lý và nhân đạo trong nhà tù. Trên nửa thế kỷ đảng Cộng Sản nhân danh dân tộc, dân chủ, giải phóng và tự do để tạo ra lớp lớp nhà tù vùi dập khát vọng dân chủ, tự do của dân tộc trong cả thế kỷ. Tàn độc để chôn vùi những oan khuất của dân đen. Đó là vinh quang của đảng Cộng Sản Việt Nam.

2. Về sự tàn sát

Dưới chế độ thực dân Anh từ 1858, năm chính quyền Anh thay Công Ty Đông Ấn cai trị Ấn, đến năm 1947, chỉ có một vụ tàn sát lớn nhất xảy ra năm 1919 tại Punjab mà nguyên nhân của biến cố là do chính quyền Anh ban hành đạo luật Rolatt Acts, cấm những hoạt động chống chính quyền. Đạo luật đó đã gây nên làn sóng phẫn nộ, nên ngày 13-4 dân Ấn đã tập họp trên 10.000 người, biểu tình phản đối đạo luật tước quyền tự do của họ tại công viên Jallianwalla Bagh. Để giải tán cuộc biểu tình, binh sĩ dưới quyền tướng Reginald Dyer đã bắn vào đoàn người biểu tình, giết hại 400 người và trên 1200 người bị trọng thương. Vụ tàn sát đã bị lên án nặng ở Ấn cũng như ở Anh. Và mặc dù chính quyền Anh đã lập ủy ban đìều tra vụ tàn sát và tướng Dyer bị sa thải khỏi quân đội, nhưng vụ tàn sát đã đưa đến cho dân Ấn một lập trường dứt khoát là chấm dứt hợp tác với Anh. Từ đó Gandhi đã trỗi vượt lên trên tất cả những người lãnh đạo khác của Indian Congress và đến Đại Hội năm 1920, cả Indian Congress và Moslem League đã cùng chấp thuận đường lối đấu tranh bất bạo động để giành độc lập. Phải nói thêm một điều là chính vụ tàn sát này đã làm thay đổi lập trường thân Anh của tầng lớp trí thức Ấn giàu có mà thí dụ điển hình là cha con Nehru (hai luật sư nổi tiếng, giàu vào loại nhất Ấn Độ) đã cùng toàn gia từ bỏ nếp sống Anh, trở về với đời sống truyền thống Ấn và nhập vào con đường đấu tranh của Gandhi. Như thế là chỉ một vụ tàn sát 400 người mà toàn dân Ấn đã chuyển động.

Từ đó nhìn trở lại Việt Nam mới nhớ lại là trên lý luận đấu tranh, Cộng Sản đã lên án chủ nghĩa đế quốc bằng tất cả những tĩnh từ xấu xa nhất của ngôn ngữ và họ cũng định cho họ sứ mệnh giải phóng nhân loại khỏi chủ nghĩa đế quốc. Nhưng khi cướp được chính quyền, xây dựng chế độ cộng sản thì nhà nước xã hội chủ nghĩa Mac-Lenin, trên tiến trình giải phóng, lại biến người dân thành nô lệ với đời sống bầy đàn kiểu trại lính, bị kiểm soát từ bao tử tới óc não, và đã tàn sát quá nhiều người để làm cách mạng vô sản. Giáo sư Rudy J. Rummel, trong công trình nghiên cứu “Death by Government: Genocide and Mass Murder” trên FreeFind.com, đã tổng kết được những nạn nhân bị thảm sát trong các nước Cộng Sản. Bản tổng kết quá dài, nên ở đây chỉ xin dẫn 2 nước Cộng Sản lớn là tổ quốc xã hội chủ nghĩa Liên Bang Sô Viết với 61.911.000 nạn nhân (riêng thời Stalin đã ghi được 43 triệu), Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa là 35.236.000 nạn nhân (không kể khoảng 20 triệu người bị chết đói trong công trình xây dựng công xã nhân dân và chương trình bước nhẩy vọt), và một nước nhỏ cạnh Việt Nam là Campuchia, dưới chế độ cộng sản Pol Pot trong khoảng 2 năm đã tàn sát 2.035.000 người trong tổng số 7 triệu dân. Còn chế độ Cộng Sản Việt Nam thì số người bị tàn sát chưa định nổi vì thời gian giết người kéo dài qua nhiều chương trình cách mạng vô sản, nhưng chỉ riêng cuộc cải cách ruộng đất “long trời lở đất” năm 1955-56 đã tàn sát trên 300.000 người mà kiểu giết người tàn bạo khó có thể tưởng tượng đến luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã phải nói là chưa từng xảy ra trong lịch sử Việt Nam.

Như thế thì thực dân Anh tàn sát 400, 4000 hay 40.000 dân Ấn vẫn chưa được một con số lẻ của những người Việt bị tàn sát dưới chế độ Cộng Sản Việt Nam. Và đến nay thì thì thế giới Cộng Sản không còn mà chỉ còn lại những đài tưởng niệm nạn nhân cộng Sản được dựng lên trong các nước Nga, Đông Âu. Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn còn nhưng lại trở thành một thứ Cộng Sản quái thai mà trong đó đảng Cộng Sản cấu kết với tư bản thế giới bóc lột, lăng nhục dân đen, tàn phá con người và đất nước mình. Đó là vinh quang của đảng Cộng Sản Việt Nam.

IV. Làm gì
Nghĩ về nhà tù xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì dễ, nhưng nói đến vấn đề phải làm gì thì khó, vì chúng ta phải đối diện với chế độ công an và nhà tù của đảng Cộng Sản. Vì thế ở đây, chúng tôi cũng chỉ xin nêu lên vài ý nghĩ để cùng nhau hình dung:

Trước hết nhà tù xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thế giới của bóng tối, nhà nước xã hội chủ nghĩa đã tìm đủ cách để che dấu nó trước những con mắt của dân Việt và thế giới. Vì thế việc cần làm là phải đưa ra ánh sáng số nhà tù, số tù nhân và chế độ tù trên toàn quốc. Việc này có thể làm, vì bây giờ chúng ta có những tổ chức chính trị với cơ sở và thành viên ở nhiều thành phố cùng nhiều nhà báo tự do “bloggers”. Ai ở đâu cứ âm thầm điều tra tại tỉnh thành phố mình cư ngụ, thì chắc là sẽ tìm được những con số nhà tù, tù nhân và nhất là chế độ nhà tù ở đó.

Thứ nhì là hình dung đến một tiếng nói đấu tranh tố cáo chế độ nhà tù xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Chẳng hạn như một Ủy Ban Đấu Tranh Cải Thiện Chế Độ Lao Tù. Tất nhiên nếu có được một ủy ban như thế thì tiếng nói sẽ có tác dụng tích cực khi Ủy Ban đưa ra ánh sáng sự ngược đãi tù nhân, tố cáo chế độ tù bất nhân xã hội chủ nghĩa trước đồng bào và trước các chính phủ dân chủ cùng các tổ chức nhân quyền thế giới.

Mới đây ngày 5-1-08, chúng ta được thấy hình ảnh uy nghiêm của trên 2000 luật sư thành phố Hồ Chí Minh đứng giơ tay biểu quyết Bản Tuyên Bố Về Vấn Đề Hoàng Sa và Trường Sa và được đọc những lời can đảm trong bản tuyên bố đó trước sự im lặng của đảng Cộng Sản, của nhà nước xã hội chủ nghĩa, của quốc hội, của mặt trận Tổ Quốc, của trên 1000 nhà văn và trên 600 tờ báo xã hội chủ nghĩa trước việc Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa và Trường Sa. Từ đó, chúng ta cầu mong và hy vọng trong số 2000 vị luật sư này sẽ có nhiều vị nghĩ đến những nổi oan khiên của bao nhiêu tù nhân đang phải sống tuyệt vọng trong tăm tối mà cùng nhau lên tiếng để nhà nước xã hội chủ nghĩa nhìn lại số phận của người dân nô lệ dưới chế độ xã hội chủ nghĩa.

Nếu trước thập niên 1980, với chuyên chính vô sản lại ở trong trường thành thế giới Xã Hội Chủ Nghĩa thì nhà tù xã hội chủ nghĩa là một thế giới bí mật, bất khả xâm phạm. Nhưng ngày nay chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang ăn theo thế giới tư bản dân chủ, không đóng cửa được, việc giết người và bỏ tù khó hơn, nên đảng Cộng Sản phải tìm cách dấu diếm những thứ bất nhân đen tối của chế độ để trương bề mặt văn minh giả trên tương quan làm ăn với thế giới văn minh thật. Chính vì lẽ này, việc thường xuyên lên tiếng tố cáo chế độ tù dã man của nhà nước Việt Nam trước thế giới văn minh sẽ có tác dụng bắt buộc nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam cải thiện chế độ lao tù.

Kết luận

Khi so sánh nhà tù thực dân Anh và nhà tù xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chúng tôi ngậm ngùi cho sự bất hạnh của dân Việt: Nửa thế kỷ, ngoài đời thì bị chuyên chính vô sản làm tình làm tội, còn trong tù thì bị vùi dập oan khiên. Nhưng may mắn là thời thế thay đổi nên dân Việt đã có cơ bật dậy, nhà tù và công an đã không dập tắt được những luồng sóng dân oan trên khắp nước đòi công lý, không dập tắt được những cuộc đình công của công nhân đòi tăng lương và đòi được đối xử nhân đạo, không đe dọa được luồng sóng giáo dân từ Bắc, Trung, Nam cầu nguyện đòi nhà nước thực thi công lý, trả lại những cơ sở tôn giáo đã bị nhà nước tước đoạt. Và nhất là nhà tù đã không trấn áp được những chiến sĩ dân chủ, những người có trái tim yêu dân, yêu công lý với lá gan lớn như trái núi – như lời nhà văn, chiến sĩ dân chủ Trần Khải Thanh Thủy – ngày càng đông đảo, cùng một lòng đấu tranh cho một Việt Nam dân chủ đa nguyên.

Như thế là bất chấp bạo lực nhà tù, những tiếng gọi nhau đòi dân chủ và công lý ngày càng lớn và khẩn thiết. Nếu vậy thì nhà tù xã hội chủ nghĩa nào có thể dập tắt được những khát vọng này?

Việt Dương
Tâm Thức Việt Nam

http://tamthucviet.com/articleview.aspx?artId=%e2%80%a2F%1f


Ảnh trong bài: Nếu không ghi thêm, tất cả các ảnh trong bài này chỉ mang tính minh họa và có bản quyền như nguồn tin gốc đã đưa.

Tin liên quan

 

Booking.com
Tiêu điểm

Đọc nhiều

Thảo luận

Quảng cáo