Biển Đông

Phân cực và hòa hoãn Mỹ - Trung đối với biển Đông

Cập nhật lúc 06-05-2012 12:35:37 (GMT+1)

 

Các mối quan hệ quân sự giữa Mỹ và Trung Quốc đã bị đóng băng hồi đầu năm 2010, sau khi Washington công bố hợp đồng bán vũ khí trị giá 6 tỷ USD với Đài Loan. Quan hệ chỉ được hâm nóng trở lại vào cuối năm 2010, trước khi cựu bộ trưởng quốc phòng Mỹ thăm Bắc Kinh vào tháng 1/2011.


Cũng trong năm ngoái, Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc và cựu Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ bán các máy bay chiến đấu mới cho Đài Loan và có những chuyến thăm qua lại giữa hai bờ Thái Bình Dương.

Động thái mới nhất là ngay tuần trước, ngày 2/5/2012, bà Hillary Clinton, cùng Bộ trưởng Tài chính Timothy Geithne. đã tới Bắc Kinh để gặp gỡ các nhà lãnh đạo Trung Quốc. Đây là chuyến thăm đã được lên kế hoạch từ lâu. Hai bộ trưởng Mỹ sẽ tham dự Đối thoại Chiến lược và Kinh tế (SED) vào các ngày 3 và 4/5 cùng các nhà lãnh đạo Trung Quốc, với nhiều chủ đề trao đổi khác nhau. Washington hy vọng thể hiện được những dấu hiệu tiến triển trong các quan hệ với Trung Quốc tại SED. Tỷ giá tiền tệ từ lâu là một đề tài tranh luận nóng giữa Mỹ và Trung Quốc. Các nghị sĩ Mỹ cho rằng Bắc Kinh giữ tỷ giá của đồng Nhân dân tệ ở mức thấp để xuất khẩu các mặt hàng giá rẻ ra khắp thế giới.

Ngoài vấn đề tỷ giá đồng Nhân dân tệ, Washington và Bắc Kinh còn nhiều vấn đề cùng quan tâm khác. Trung Quốc gần đây giảm nhập khẩu dầu mỏ từ Iran, nhắc nhở Triều Tiên về vụ phóng tên lửa, đồng thời ủng hộ một kế hoạch hòa bình cho Syria sau khi từng cùng Nga bác bỏ hai nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Đây đều là những vấn đề mà Mỹ đặc biệt theo sát. Người ta bình luận rằng, nhưng động thái ngoại giao liên tục Mỹ-Trung đang thể hiện động thái nhằm tạo thế cân bằng giữa đối thoại và đối đầu, đối tác và đối tượng giữa hai cường quốc ở hai bên bờ Thái Bình Dương.

Người phát ngôn Lầu Năm Góc, ông George Litte đã công khai: Từ ngày 7/5/2012 Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc, ông Lương Quang Liệt thăm Hoa Kỳ, nhằm tăng cường hơn nữa mối quan hệ quân sự, và những mối quan hệ mới Mỹ-Trung. Trong thời gian lưu lại nước Mỹ, ông Lương sẽ tới thăm một số căn cứ quân sự Mỹ, trong đó có căn cứ hải quân ở San Diego (bang California), căn cứ lính thủy đánh bộ Camp Lejeune (bang Bắc Carolina) và căn cứ quân đội ở Fort Benning (bang Nam Carolina). Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc cũng sẽ ghé thăm học viện quân sự West Point. Mỹ, vốn được cho là ngày một lưu tâm tới sự phát triển quân sự vượt bậc của Bắc Kinh, đang theo đuổi việc phát triển các mối quan hệ với quân đội Trung Quốc nhằm đẩy mạnh hợp tác và khuyến khích minh bạch hơn nữa.

Từ những năm 1940 của thế kỷ 20, sau chiến tranh thế giới thứ 2, khi quân Pháp bị thất sủng tại chiến trường Đông Dương, Hoa Kỳ đã nỗ lực lớn với chính sách rõ ràng hơn cho sự hiện diện làm chủ khu vực châu Á - Thái bình Dương. Đế quốc Mỹ chớp nhanh “thời cơ” đã đến, không bỏ qua nguồn lợi ích sống còn trong việc duy trì sự kiểm soát khu vực, mong tạo được ổn định, tự do hàng hải và quyền hoạt động thương mại hợp pháp trong khu vực Đông Nam Á. Muốn vậy, không đâu hơn là phải đứng chân được tại Đông Dương, mà Việt Nam là tâm điểm. Trong hàng thế kỷ qua, Mỹ tham gia hoạt động trong khu vực cả Đông Bắc Á và Đông Nam Á, bao gồm cả sự hiện diện từ chiến thắng của phe “đồng minh” trong thế chiến thứ 2 với nhiều căn cứ quân sự và lực lượng chiến đấu tại Nhật Bản, cùng với những bước chuyển tiếp triển khai các lực lượng Mỹ trong thời kỳ xảy ra cuộc chiến tranh Triều tiên, vừa chủ động tấn công, vừa làm hậu thuẫn, trở thành một nhân tố trung tâm của liên minh Nhật - Mỹ - Hàn trong việc giữ gìn hòa bình và bảo vệ những lợi ích của khối này.

Thàng 3-2010, trong bài điều trần về quan hệ của Mỹ đối với châu Á - Thái Bình Dương, nhất là vấn đề biển Đông, Phó Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, ông Robert Scher đã nói rằng: “Đông Nam Á chắc chắc đóng một vai trò quyết định trong việc xác định rõ tương lai của khu vực châu Á - Thái Bình Dương, và sự tiếp tục can dự của Mỹ với khu vực này cho phép Mỹ định hình tương lai đó. Chúng ta sẽ tiếp tục sử dụng sự can dự quân sự với các đồng minh và bạn bè của chúng ta ở Đông Nam Á và Trung Quốc để chứng tỏ cam kết của Mỹ đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương, để thúc đẩy các mục đích và mục tiêu chung, và Trung Quốc cũng đóng một vai trò xây dựng trong khu vực”.

Ông R.Scher cho rằng: “Sự cần thiết phải duy trì hiện tại và phát triển trong tương lai vai trò hiện diện của Mỹ và các liên minh của chúng ta ở châu Á, phát triển các năng lực của Mỹ, và tỏ rõ quyết tâm của Mỹ trong việc duy trì hòa bình và ổn định. Cần khẳng định sự lựa chọn nhất quán trong nhiều thập kỷ qua rằng các lợi ích của Hoa Kỳ nằm trong sự can dự mang tính xây dựng với Trung Quốc, được kết hợp với một mạng lưới liên minh và các quan hệ đối tác hùng mạnh trong khu vực”...

Mỹ cũng sớm nhận ra là vùng biển Đông từ lâu đã đi vào bản đồ Trung Quốc với cái tên không đổi: "biển Nam Trung Hoa" (!?). Gần đây, Mỹ càng tỏ ra bức xúc với cái “Đường lưỡi bò” mà Trung Quốc đã cố tình vẽ ra trên biển Đông. Đối với Châu Á – Thái Bình Dương và đặc biệt là Đông Nam Á, vai trò chi phối, cũng như khả năng răn đe của Trung Quốc là rất lớn. "Hoạt động của Trung Quốc tại Đông Nam Á và tác động tới lợi ích Mỹ" - đó cũng là phát biểu của Phó Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ David B. Shear về Đông Á - Thái Bình Dương tại Phiên điều trần về “chiến lược phương Đông” tại Ủy ban đánh giá An ninh và Kinh tế Mỹ - Trung. Về biển Đông, nước Mỹ có nhiều quan điểm thuận chiều có lợi cho VN như: ủng hộ đa phương hóa tranh chấp, DOC, COC, vai trò ASEAN, không chấp nhận "Đường lưỡi bò", phản đối dùng vũ lực làm thay đối nguyên trạng, phản đối TQ đe dọa các công ty Mỹ tham gia khai thác dầu khí...

Các nhà ngoại giao uy tín có nhiều kinh nghiệm và thông hiểu sự lèo lá chèo chống của phía Trung Quốc, cũng như các nhà lãnh đạo Bắc Kinh, đều nói rằng: “Chúng tôi đã nhằm hỗ trợ tôn trọng luật pháp quốc tế, như được phản ánh trong Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS). Và chúng tôi không dễ dàng vi phạm những điều khoản trong đó, cũng như bản chất sự hiện diện của Mỹ vừa mang tính lịch sử chiến sự toàn cầu, vừa là sự phối thuộc và hiệp tác”.

Trung Quốc, Việt Nam, Đài Loan, Philippines, Malaysia, Indonesia và Brunei là những nước có chung “con sóng lãnh hải” trên biển Đông. Mỗi nước đều có quyền tuyên bố chủ quyền lãnh hải của mình theo đúng Luật pháp Quốc tế. Trung Quốc không bao giờ nói biển Đông mà trở đi trở lại vẫn khăng khăng gọi là chủ quyền trên "vùng biển Nam Trung Hoa". Thậm chí trong tiềm thức xuất phát từ sự tham lam của nhiều đời, Trung Quốc nuôi nhiều tham vọng ở khu vực này cả về lãnh hải và đất liền, và do vậy mà mưu đồ bá vương đối với khu vực này, bao gồm cả hải phận quốc tế, mỗi ngày càng được Trung Quốc dồn sức “đầu tư” về chính trị cũng như quân sự.

Việc Trung Quốc là một bên tham gia chiến lược ở Đông Nam Á không phải là điều mới - Bắc Kinh lâu nay đã đặt ưu tiên vào các mối quan hệ của mình với các quốc gia Đông Nam Á, đồng thời coi khu vực này có tầm quan trọng chủ chốt đối với sự ổn định của các đường biên giới tây nam của nước này, là một thị trường tiêu thụ dễ tính hàng hóa xuất khẩu, và là nguồn cung cấp các nguyên liệu thô mang tính quyết định cho Trung Quốc. Trong suốt thế kỷ 19 và 20, Trung Quốc đã rút khỏi ưu thế lịch sử khu vực của mình, nhưng vẫn nuôi hi vọng, sẵn sàng tìm cách giành lại ưu thế đó trong thế kỷ 21. Trong các nước có chung biển Đông, tuyên bố về lãnh hải của các nước khác nhau, nhu cầu về khai thác vùng biển, thềm lục địa cũng không giống nhau là điều không có gì khó hiểu.

Vì vậy, có được “tuyên bố chung” đồng thuận về hai quần đảo lớn nhất khu vực này là Trường Sa và Hoàng Sa là rất khó khả thi, vấn đề cần được xác định từ trong lịch sử khai thác, khám phá của các vương triều và nhất là hoạt động của ngư dân từ thời xa xưa. Năm 2002, các nước ASEAN và Trung Quốc đã ký "Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên biển Đông (DOC)" một cách khó khăn tại hội nghị ASEAN lần thứ 8 tại Căm pu chia. Trong khi không ràng buộc, đặt ra các nguyên tắc hữu ích, chẳng hạn như tất cả các bên tranh chấp nên "giải quyết các tranh chấp ... bằng các biện pháp hòa bình" và "trên cơ sở đó cần có những nỗ lực tự kiềm chế", và rằng họ"khẳng định sự tôn trọng giữa các nước về tự do hàng hải và khai thác hải sản trên biển Đông”theo các nguyên tắc quy định đã được luật pháp quốc tế quy định và thừa nhận, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) năm 1982.

Tuyên bố DOC năm 2002 thể hiện hiện sự nhất trí cao của các nước ASEAN về vấn đề biển Đông, nhất là đối thoại đa phương, trong khi đó Trung Quốc ký với một động thái gượng ép như một biện pháp tình thế. Tuyên bố này được Mỹ hoan nghênh, ủng hộ và cho rằng nếu thực hiện được như thế rất hữu hiệu cho an ninh trên biển Đông, nhưng Hoa Kỳ cũng biểu hiện thái độ qua nhận định rằng, dù Trung Quốc có ký vào bản tuyên bố, nhưng không dễ gì thực thi. Và đúng vậy, dù đã “thỏa thuận”, nhưng Trung Quốc vẫn thấy không “thỏa” và cũng không“thuận”. Bằng chứng là 10 năm qua, Trung Quốc vẫn tiếp tục tung hoành biển Đông mà không hề đếm xỉa gì đến DOC. Và chính vì thế, cho dù tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 20 tổ chức tại Phnom Pênh ngày 3-4 mới rồi, ông Chủ tịch Hun-sen nghe lời Trung Quốc không đưa vấn đề biển Đông vào chương trình nghị sự, nhưng các nước ASEAN vẫn đề xuất, xác nhận cần nhanh chóng có một bản quy ước ràng buộc pháp lý COC về vấn đề giải quyết các tranh chấp, đảm bảo an ninh trên biến Đông.

Trong bối cảnh đó, Mỹ càng khẳng định rõ hơn về mặt quan điểm trước những diễn biến ứng xử các bên trên biển Đông. Vấn đề nhất quán của Mỹ là khẳng định sự hiện diện cần thiết với vai trò một quốc gia Thái Bình Dương về mọi mặt - địa chính trị, quân sự, ngoại giao và kinh tế. Châu Á và Thái Bình Dương đóng một vai trò không thể thiếu trong việc giải quyết những thách thức và nắm bắt các cơ hội của thế kỷ 21. Các Liên minh của Mỹ với Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, Thái Lan, và Philippines vẫn là nền tảng cho sự hiện diện và can dự của Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương. An ninh và ổn định được tạo ra thông qua các mối quan hệ này là mang tính quyết định đối với sự thành công và phát triển của khu vực này.

Những giá trị chung và những lợi ích chiến lược của Mỹ đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nước trong khu vực này có thêm thuận lợi để phát triển và thịnh vượng trong thời bình, và đó cũng chính là chìa khóa để duy trì ổn định và an ninh. Chính quyền Obama cam kết tăng cường các liên minh này nhằm giải quyết những thách thức đang tồn tại cũng như đang mới phát sinh với phía Trung Quốc. Đã có lần vào cuối năm ngoái tại Manila, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton khẳng định Washington sẽ sát cánh với đồng minh Philippinnes trước các thách thức về an ninh. Philippines là một trong các bên tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, và vừa có những tố cáo qua lại với Trung Quốc trong vấn đề chủ quyền biển đảo. Mỹ còn cam kết nâng cấp hải quân cũng như cung cấp cho Philippines thêm tàu chiến để tuần tra vùng biển. Đồng thời, tuy không nhắc đến đích danh Trung Quốc, nhưng bà H. Clinton lên tiếng phản đối rằng mọi hình thức đe dọa hay bắt nạt khi giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông thì đều có thể buộc Mỹ sẽ phải can dự.

Chính sách của Mỹ cơ bản là vẫn tiếp tục không đứng về bên nào trong các vụ tranh chấp pháp lý về chủ quyền lãnh thổ ở biển Đông, tuy đây là mối quan tâm lớn, rằng Mỹ sẽ có thái độ với bất kỳ nỗ lực nào muốn thay đổi hiện trạng bằng vũ lực. Mỹ đang tỏ ra “quan tâm kỹ càng” về vùng lãnh hải, hoặc bất kỳ khu vực hàng hải nào mà một quốc gia cố tình “nhận vơ” cho mình, bất chấp đến chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải của các nước láng giềng. Mỹ đã đã kêu gọi tất cả các bên tranh chấp trên biển Đông hết sức kiềm chế và tránh những hành động vũ lực, hoặc cố chấp đòi giải quyết tranh chấp bằng gặp gỡ song phương, cũng như bất kỳ hành động nào cản trở tự do hàng hải, đòi hòi các nước liên quan phải thực hiện nghiêm các điều khoản về lãnh thổ, lãnh hải của luật pháp quốc tế, trong đó bao gồm cả UNCLOS mặc dù nước Mỹ hiện nay vẫn chưa phê chuẩn công ước này.

Mỹ nêu rõ sự quan ngại về căng thẳng giữa Trung Quốc và Việt Nam, khi Trung Quốc cứ xoi mói vào khu vực khai thác tiềm năng dầu và khí đốt nằm trên vùng biển tranh chấp này, một vùng biển nằm trong lãnh hải và thềm lục địa của Việt Nam. Những tuyên bố của Trung Quốc về chủ quyền với hầu hết biển Đông, nhất là những khu vực được cho là có trữ lượng dầu khí lớn và có các tuyến vận tải hàng hải vô cùng quan trọng của thế giới, đã vấp ngay phải sự phản đối của các nước thành viên ASEAN gồm Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei.

Từ mùa hè năm 2007, Trung Quốc đã công khai yêu cầu Mỹ, Nga và các nước không nên trở thành đối tác và cũng nên ngừng việc giúp Việt Nam thăm dò, khai thác dầu khí ở khu vực này. Mỹ cho rằng, do qua những động thái đó, Trung Quốc đã bộc lộ sự qúa thèm thuồng với nguồn tài nguyên dầu khí ở vùng này bất chấp luật pháp quốc tế! Mỹ đã tuyến bố phản đối bất kỳ nỗ lực nào để đe dọa các công ty Mỹ và rằng đi ngược lại tinh thần của thị trường tự do và mối quan hệ kinh tế đói ngoại cần thiết của các nước với Mỹ. Sau chuyến viếng thăm Việt Nam vào tháng 9-2008, ông John Negroponte, Phó Tổng thư ký Văn phòng Nhà Trắng đã khẳng định quyền của các công ty Mỹ hoạt động tại biển Đông, và nói Mỹ tin rằng các tuyên bố tranh chấp nên được giải quyết một cách hòa bình và không dùng vũ lực trong các vụ tranh chấp, cũng như tránh những thủ đoạn và hành động mang tính cưỡng chế hay uy hiếp. Mỹ cũng đưa ra mối quan tâm và sự chí quyết này đối với Trung Quốc. Và Mỹ đã tái khẳng định quan điểm rằng, việc Trung Quốc lúc nào cũng để ý tới và tìm cách kiềm chế, ngăn trở các quốc gia trên thế giới hợp tác về kinh tế biển, và nhất là dầu khí với Việt Nam là sự can thiệp trắng trợn, thể hiện ý đồ tranh giành rất rõ, là vi phạm luật pháp quốc tế không ai có thể chấp nhận được.

Hiện nay, một trong những lĩnh vực mà Mỹ can dự nhiều nhất là vấn đề an ninh - hàng hải và những nỗ lực chống cướp biển, chống phổ biến vũ khí hạt nhân trên biển Đông. Bộ chỉ huy quân sự Thái Bình Dương của Mỹ đang phối hợp chặt chẽ với một số đồng minh và các quốc gia như Inđonesia, Malaysia và Philippines để tiến hành huấn luyện và trang bị, từ rađa cho đến máy bay tuần tra, tạo điều kiện cho những nước này có đủ khả năng kiểm soát các tuyến hàng hải đã được sử dụng, trước mắt là chống cướp biến, chống khủng bố, buôn lậu ma túy và buôn lậu vũ khí. Mỹ cũng đã cung cấp viện trợ góp phần giúp các quốc gia phối hợp với nhau, chẳng hạn Inđonesia, Malaysia, Singapore, Philippines, và các nước khác nhằm đảm bảo an ninh và cải thiện các tuyến đường quá cảnh trong khu vực.

Đầu năm 2012, nhiều học giả chuyên nghiên cứu về quan hệ các siêu cường đã đi đến thống nhất một nhận định rằng, quan hệ Trung - Mỹ hiện nay đang đặt trong hai sự lựa đáng quan tâm, một là đi theo hướng đối kháng, hình thành cục diện chiến tranh lạnh mới; hai là tái cân nhắc cấu trúc G2, hình thành cục diện Trung - Mỹ cùng thống trị thế giới. Về sự lựa chọn thứ nhất, cả Trung Quốc và Mỹ đều đang coi đó là vấn đề có tính chiến lược, nhưng mỗi bên đều giữ thế thủ, để đến khi có tình huống “đến độ” cần thiết thì phải chọn phương thức được cho là cao điểm này.

Tuy nhiên, cân đối về tính toàn cầu và thực trạng suy thoái kinh tế, khủng hoảng tài chính hiện nay, Mỹ và Trung Quốc đang cố tìm lối thoát là nên chăng từ những điều kiện và cơ hội thực tế để có thể, trước mắt, phải lựa chọn cấu trúc G2 hay không? Sau thất bại chiến tranh Đông Dương hồi đầu thập niên 70 của thế kỷ trước, nay Mỹ đang ráo riết quay trở lại địa bàn chiến lược quan trọng, khu vực thị trường béo bở này. Chính vì thế, yêu cầu đặt ra là phải nhắm vào mục tiêu kiềm chế Trung Quốc. Như vậy, hòa hoãn, hợp tác và đối kháng vẫn luôn luôn song hành trong thế “kéo co” thiếu trọng tài, ai mạnh kẻ ấy thắng thế giữa hai cường quốc Mỹ - Trung. Vì vậy mà xu thế đối kháng vẫn là “vệt đen” treo ngang hai lá cờ cường quốc khi thì phân cực, khi thì hòa hoãn. Đối với Trung Quốc, từ lâu sự can thiệp của Mỹ ở châu Á đã là cái gai khó chịu mà Trung Quốc muốn nhổ cho nhanh. Thì nay những ý định và nỗ lực cạnh tranh với Mỹ vẫn đang là mục tiêu không thể xa rời.

Nhưng trong bối cảnh còn nhiều khó khăn, phúc tạp trong khu vực và toàn cầu, Trung Quốc vẫn coi việc tìm kiếm hợp tác qua lại là thượng sách, tránh được xung đột là trung sách, chiến tranh và phá hoại là hạ sách. Đối với Mỹ, hiện nay việc kiềm chế Trung Quốc vẫn nằm trong những toan tính và kế hoạch của chiến lược toàn cầu. Sự trỗi dậy của Trung Quốc đang là thách thức cho nước Mỹ.

Trong các kế hoạch kinh tế đối ngoại và tạo thế chủ động về nhiều mặt, dù đang cơn suy thoái kinh tế, khó khăn tài chính, nhưng Mỹ đang ra sức tăng cường các nỗ lực để tiếp tục can dự, hợp tác và bênh vực các nước ASEAN, nhất là các nước có chung biển Đông với Trung Quốc, nhằm chứng tỏ rõ “trách nhiệm” và thể hiện sự hậu thuẫn cho các nước trong khu vực này phát triển. Mỹ khẳng định rằng vẫn sẽ tiếp tục gia tăng duy trì sự hiện diện để còn nhằm mục đích phát triển các nguồn lực kinh tế do nhu cầu đặt ra khi tranh chấp thị trường toàn cầu ngày càng gay gắt. Cho nên, Mỹ càng tỏ rõ quyết tâm trong việc khẳng định vai trò duy trì hòa bình và ổn định tại chấu Á - Thái Bình Dương. Cũng do vậy, Trung Quốc vẫn coi Mỹ là “đối thủ” đáng gờm, rào cản con đường tiến về phương Nam trong khu vực này, có chính sạch vừa hoạnh họe, bắt nạt các nước láng giềng, vừa tỏ ra mềm dẻo và linh hoạt đối với quan hệ thương mãi và quân sự tránh đụng chạm hay "đối đầu" với siêu cường quốc Hoa Kỳ phản ánh qua cuộc hội đàm chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc tại Bắc Kinh vừa diễn ra mấy ngày trước tại Bắc Kinh.

Nguồn: Bùi Văn Bồng Blog

 

Tiêu điểm

Thảo luận

Quảng cáo