Séc-Slovakia

Hàng tỉ “tiền bẩn“ từ CH Séc được xách tay về Việt Nam (1)

Cập nhật lúc 01-10-2010 18:08:15 (GMT+1)

 

Báo chí Séc thích đưa tin kiểu giật gân. Đề tài về người Việt thường là nóng bỏng. Xin giới thiệu đến bạn đọc bài viết về "góc tối" của một số người trong cộng đồng Việt. Mức độ chính xác của thông tin là một câu hỏi nhưng cũng đáng để ta suy ngẫm. Cho đến nay, chưa có phản ứng nào của các cơ quan chức trách Việt Nam về thông tin này...


Nhật báo Lidové noviny số ra ngày 01/10/2010 trong cái mà phóng viên báo này gọi là “phanh phui phần nào“ hoạt động của thế giới ngầm Việt Nam tại CH Séc, chạy dòng tít lớn “Hàng tỉ tiền bẩn từ Séc về Việt Nam trong những chiếc vali“.

Điều gì đã xảy ra sau thời kỳ những cơn mưa vàng, như cách gọi của người Việt Nam về thời gian bắt đầu buôn bán của mình trong những năm chín mươi? Và từ đâu đã mọc lên những hoạt động tội phạm liên quan tới cộng đồng Việt Nam hiện nay?

 Sau năm 1989 bắt đầu hình thành những chợ trời khổng lồ, trở thành thế giới cho chính mình. Hoạt động của nó ngay từ đầu đã dựa vào các nhóm tổ chức giải quyết “dich vu hai quan“ (nguyên văn bằng tiếng Việt trong bài viết. ND), tạm dịch nghĩa là “dịch vụ giải quyết thuế“. Nhóm này nặn ra hoá đơn giả cho số hàng hoá nhập khẩu từ châu Á. Những hoá đơn này đánh thấp giá trị hàng hoá tới 90% so với giá trị thực. Qua đó phản ánh mức thuế xuất hải quan tối thiểu.

 Với “dịch vụ hải quan“ doanh nhân Việt Nam đặt contener hàng hoá, “dịch vụ“ sẽ cung cấp và chuyển hàng “đã đóng thuế“ tới những khu chợ khổng lồ, nơi xuống hàng và phân phối đi khắp Liên minh châu Âu. Thực tế là nguồn gốc của nó không thể tìm thấy được. Hoá đơn được ghi cho những công ty ảo (đại đa số là s.r.o.- trách nhiệm hữu hạn), mà chủ sở hữu của nó thường không ở CH Séc.

 Tại CH Séc hiện nay vẫn còn hoạt động hàng chục các “dịch vụ“ (nhóm có tổ chức) này, cũng cung cấp dịch vụ cho cả thương doanh Trung Quốc ở nước ta và cả các quốc gia láng giềng.

 Nền kinh tế của kiều dân Việt Nam hầu như hoàn toàn hoạt động bằng tiền mặt. Khối lượng tiền chuyển hàng năm từ Cộng hoà Séc về Việt Nam ước tính khoảng sáu tỉ korun (là mức bình quân của những năm 2005-2007). Công khai chính thức.Trong đó tính cả thu nhập của những người Việt Nam bán lẻ và công nhân, gửi tiền của mình về cho gia đình qua họ hàng hay trong trường hợp cấp thiết thông qua hãng Western Union.

 Năm tỉ korun khác bay về Việt Nam bằng nhiều luồng không chính thức- là lợi nhuận từ các hoạt động phi pháp và không nộp thuế. “Nhiều lần chúng tôi đã giữ cửu vạn với vali, trong đó đựng hàng chục triệu korun. Chủ yếu tại sân bay. Ví dụ chúng tôi mật báo cho phía Đức, và họ giữ cửu vạn lại tại Frankfurt và sau đó chúng tôi tranh cãi nhau, xem ai là người được số tiền thu được ấy,“ cựu sĩ quan cảnh sát đặc nhiệm Hynek Vlas nhớ lại.

Cơn mưa vàng đã hết  

Những chợ nằm dọc đường biên giới Séc dần quạnh quẽ. Những người bán hàng Việt Nam bỏ quầy và chuyển vào các cửa hiệu trong nội địa, mở tiệm ăn, salon thẩm mỹ, làm móng tay, tiệm cắt tóc, hiệu tạp hoá. Sau hai chục năm, từ những người bán hàng lều chõng đã trở thành tầng lớp thương gia giầu có. Đồng thời, trong thời kỳ khủng hoảng hiện nay, nhiều khi thì được gọi là khủng hoảng tài chính, khi thì kinh tế, từ làn sóng người Việt di trú cuối cùng hình thành tầng lớp mà ngày xưa gọi là giai cấp vô sản làm thuê.

Miền đất hứa

Đạo diễn Martin Ryšavý hồi tháng sáu năm nay nhận được giải thưởng Pavel Koutecký cho bộ phim tài liệu Miền đất hứa, miêu tả về tình cảnh tuyệt vọng của những công nhân Việt Nam trong làn sóng di trú cuối cùng. Họ bị những kẻ môi giới lôi kéo bởi mức thu nhập không tưởng và trở thành mục tiêu bóc lột sức lao động qua những ca làm việc vô tận trên dây chuyền lắp ráp, hay tồi tệ hơn, trong những xưởng sản xuất thuốc lá giả bất hợp pháp và vườn trồng cần sa.

 Cho đến khi Đại sứ quán Séc nhận được lệnh hạn chế cấp thị thực vào năm 2008, mỗi ngày trung bình có hàng chục người Việt Nam đến Séc. Làn sóng di trú cuối cùng (khoảng từ năm 1998), mà bộ phim của Ryšavý nói đến, đạt tới con số hai chục nghìn người sẵn sàng lao động cật lực. Mỗi người trong số họ ở quê nhà nợ môi giới trung bình mười hai nghìn đôm, từ số ấy khoảng ba nghìn để chi- đủ các thứ lệ phí và giấy phép- vào tài khoản nhà nước Việt Nam, tất cả các chuyên gia về di trú  thống nhất như vậy. Và món tiền này (không chỉ) với những người nông dân nghèo trông vào ruộng luá, là rất lớn. Nợ nần của những nông nô mới đến này nằm trong cơ cấu kinh doanh di trú Việt Nam, mà lãi ròng của nó cho mỗi đầu người chỉ cần đến được CH Séc đã là khoảng mười nghìn Mỹ kim.

“Đây là tội phạm do nhà nước tổ chức, cách giải quyết nằm ở phía Việt Nam. Nhưng họ không có nhu cầu sửa chữa. Chính phủ Việt Nam không hề có phản ứng gì trước đề nghị đàm phán đã được đưa ra cách đây hơn một năm. Chúng ta chỉ có thể thít lại cái vòi thị thực,“ một quan chức cao cấp nhà nước Séc giải thích. Không muốn nêu tên, vì lo ngại sức ép của giới tổ chức cái thương vụ di trú này.

Khởi nghiệp kinh doanh

Cội rễ hoạt động kinh doanh bất hợp pháp của người Việt Nam bấưt đầu từ thập kỷ tám mươi. Ngày đó hàng chục nghìn công nhân Việt Nam làm việc tại Tiệp Khắc trên cơ sở thoả thuận liên chính phủ. Những người có máu làm ăn trong số họ đã bắt đầu may chui quần áo bò giả thịnh hành và cả từ nguyên liệu vải vóc tìm được. Thành công vô cùng lớn. Đại sứ quán Việt Nam cũng sớm tham gia kinh doanh. Cùng với hàng vải bổ xung thêm đồ điện tử- những chiếc đồng hồ điện tử quá được ưa chuộng- và tại phi trường Ruyzně cũ, là nơi chỉ đón các đồng chí nước ngoài đến thăm, hạ cánh trong những chiếc phi cơ ẩn dưới vỏ ngoại giao là đầy sản phẩm châu Á, mà ngay lập tức và không cần nộp thuế xuất hiện trên thị trường chợ đen.

 Sau năm 1989 những nhóm công nhân Việt Nam cuối cùng đã ở lại và biến thành người bán hàng rong. Và hơn nữa, kéo về Séc (và cả Slovakia) phần lớn người Việt Nam từ Đông Đức, Ba Lan và Hungary. Bắt đầu hình thành những chợ trời khổng lồ và trở thành thế giới cho riêng mình.

 Công bố từ năm ngoái của Viện quan hệ quốc tế khẳng định, rằng những người môi giới dịch vụ này “có lời lãi rất lớn, giầu lên và mở rộng ảnh hưởng của mình trong lĩnh vực“. “Không chỉ nói đến những đầu tư ngay sau đó vào kinh tế hợp pháp, mà cả giành được những quan hệ và ảnh hưởng trong môi trường cộng đồng và chính khách hàng đầu. (...) Hệ thống này hưởng lợi ở chỗ, là rất nhiều các cơ quan chức năng giám sát không làm tròn vai trò của mình. (...) Hoạt động của các công ty hình bóng cũng được tạo điều kiện bởi tính không triệt để từ phía các cơ quan quản lí thuế. Các cơ quan thuế chỉ đánh dấu những công ty như vậy là không thể liên lạc được. Rất hiếm khi đưa đề nghị sang danh lục toà án yêu cầu huỷ tên công ty.“

Marihuan và bán ma tuý

Theo những người Việt Nam đã định cư tại Séc, thì tất cả những gì tồi tệ dính líu đến người Việt Nam, là từ Đức, Hà Lan, Bắc Mỹ và Skandinavie. Nhất là về canh tác cần sa và buôn bán ma tuý. Cả các chuyên viên cảnh sát cũng công nhận là đúng phần nào. Jiří Ištvaník và Petr Buříč từ nhóm cảnh sát đặc nhiệm Egger từ thành phố Cheb khẳng định, rằng sự mẫn cán của cảnh sát Đức đã lùa các thành viên những băng đảng Việt Nam ở đó sang Séc. “Bọn họ có thể làm được chuyện thay đổi danh tính mua lại giấy tờ của những người Việt hồi hương. Cũng như với bằng lái xe, một người thi hộ cho hai chục ai khác.“

 Những mánh lới phi pháp của người Việt Nam khi hợp pháp hoá cư trú tại CH Séc là sử dụng cộng đồng Digan. Tổ chức thực hiện đám cưới và cả nhận bố giả. Cảnh sát hình sự thú nhận, rằng những lễ thành hôn như vậy mặc dù biết rõ có chủ đích nhưng khó lòng chứng minh. “Chung sống với nhau thế nào đó, cùng có con...“ họ diễn giải loại hình chung sống nhân bản đa văn hoá mới xuất hiện.

 Một số người Digan liên kết với Việt Nam cả trong các hoạt động khác. Những người Việt Nam điều hành các herna tại Cheb hầu như là nhà cung cấp độc quyền ma tuý cho dân Digan (nhưng không chỉ họ) và ngược lại người Digan tận dụng thế giới ngầm Việt Nam trong những cơ hội hoạt động bất hợp pháp. Nhưng mối quan hệ này không bình đẳng bằng bất kỳ giá nào. Khẳng định điều đó bằng cách người Việt ám chỉ dân Digan- mọi (nguyên văn bằng tiếng Việt trong bài viết. ND). Đây là thuật ngữ sử dụng ở miền Trung Việt Nam, dùng để chỉ những dân tộc thiểu số miền núi, mà cộng đồng xã hội Việt Nam coi là lạc hậu và mọi rợ.

 Hoạt động phân phối ma tuý trên thực tiễn diễn ra như thế nào? “Năm nào chúng tôi cũng có một khách là người Việt Nam. Nhưng mỗi năm là một người hoàn toàn khác,“ cô Markéta từ tổ chức Kotec, cung cấp dịch vụ sức khoẻ- xã hội cho những người nghiện ma tuý ở Cheb kể. “Đến và đổi lấy ví dụ tới ba trăm ống tiêm mới. Chúng tôi chỉ có thể đoán, là cho bao nhiêu người. Nhưng chắc chắn là sau đó người Việt Nam bán lại trong herna của mình những ống tiêm mới với giá năm mươi korun“. Rằng cùng với kim tiêm là kèm theo cả liều ma tuý, là chuyện hoàn toàn dĩ nhiên.

(Còn nữa)

David Nguyen biên dịch (từ Lidove noviny)

 

Đón đọc phần 2 tiếp theo và hết (2.10.2010):

- Sinh viên rởm

- Chuyển tiền

- Những ông Bác ("bố già")

Quy định bình luận
Vietinfo tạo điều kiện cho bạn đọc bày tỏ chính kiến, song không chịu trách nhiệm cho quan điểm bạn đọc nêu trong bình luận của bạn đọc. Quan điểm bạn đọc không nhất thiết đồng nhất với quan điểm của Vietinfo.eu. Khi bình luận tại đây, hãy:
- lịch sự, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau,
- bày tỏ quan điểm tập trung vào chủ đề bài viết,
- không dùng các từ ngữ thô tục, bậy bạ,
- không xâm phạm đến quyền riêng tư cá nhân hay một số cá nhân,
- không tỏ thái độ phân biệt trên bất cứ phương diện nào (dân tộc, màu da, giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp…).
Mọi nội dung không phù hợp với các tôn chỉ trên có thể bị sửa hoặc xóa.
Cách gõ tiếng Việt
Dấu mũ Â, Ê, Ô – gõ 2 lần: AA, EE, OO
Dấu móc Ă, Ơ, Ư – thêm phím W: AW, OW, UW
Dấu huyền – thêm phím F
Dấu sắc – thêm phím S
Dấu hỏi – thêm phím R
Dấu ngã – thêm phím X
Dấu nặng – thêm phím J
Xóa dấu – thêm phím Z

Ví dụ:
Casch gox tieesng Vieejt.
Cách gõ tiếng Việt.
Tin liên quan

 

Tiêu điểm

Thảo luận

Quảng cáo