Liên bang Đức

Gian truân con đường hội nhập của người Việt trên đất Đức

Cập nhật lúc 30-06-2015 04:27:12 (GMT+1)
Tiến sĩ Phạm Ngọc Kỳ (người đứng sau bục) đọc tham luận

 

Một tham luận rất ""Việt Nam"" với hàng loại các KÍNH THƯA - (Tham luận của Tiến sĩ Phạm Ngọc Kỳ, Chủ tịch Hội doanh nghiệp Việt Nam tại Đức đọc tại Lễ hội  "40 năm người Việt hội nhập và phát triển tại CHLB Đức" ngày 28/6/2015)


Kính thưa ngài GS TS Nguyễn Thiện Nhân, Ủy viên Bộ chính trị đảng CS Việt nam, chủ tịch trung ương MTTQ Việt Nam
Kính thưa ngài TS Nguyễn Thị Hoàng Anh, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước CHXHCN Việt Nam tại CHLB Đức
Kính thưa ngài TS Gesine Lötzsch, Nghị sỹ Quốc hội liên Bang, chủ tịch ủy ban ngân sách
Kính thưa ngài Sylvia - Yvone Kaufmann, Nghị sỹ nghị viện châu Âu
Kính thưa ngài TS Martin Pätzold, Nghị sỹ Quốc hội liên bang
Thưa tất cả những người đồng hương Việt Nam thân mến của tôi.
Thưa toàn thể các vị khách quý của buổi lễ hôm nay.

Tôi có vinh dự được đứng ở đây trong giờ phút đáng ghi nhớ này để cùng quí vị và những người đồng hương thân mến của tôi ôn lại một chặng đường, chặng đường bốn mươi năm hội nhập và phát triển của cộng đồng người Việt Nam trên nước Đức. Đúng ra người Việt Nam có mặt ở Đức sớm hơn nhiều so với con số 40 năm. Vào những năm năm mươi của thế kỷ trước, 350 học sinh Việt Nam đã được gửi đến Moritzburg để theo học các trường phổ thông(1). Nếu căn cứ vào mốc thời gian này thì con số được nhắc tới phải là 60 năm. Nhưng thưa quý vị kính mến, những người Việt đến nước Đức thời kỳ này chủ yếu để học tập, thăm quan hay công tác trong một thời gian, rồi trở về nước; hội nhập lúc đó là một nhu cầu xa lạ, chưa được đặt ra. Sau năm 1975, khi quan hệ ngoại giao giữa hai nhà nước CHXHCN Việt nam và CHLB Đức chính thức được thiết lập đồng thời với việc thay đổi hệ thống chính trị (thống nhất) ở Việt Nam, một số người tị nạn từ VN sang CHLB Đức (chủ yếu bằng đường biển, gọi là thuyền nhân). Một số học sinh từ chế độ VN Cộng hòa sang Đức du học cũng có nhu cầu ở lại. Đặc biệt sau này, vào những năm cuối của thập kỷ tám mươi, một số lượng lớn người lao động VN tại CHDC Đức, phải chấm dứt hợp đồng lao động sau sự kiện Thống nhất nước Đức, cũng có cơ hội và nhu cầu ở lại nước Đức. Yêu cầu hội nhập bắt đầu từ đây.

Cộng đồng người Việt ở CHLB Đức hôm nay, do đặc điểm lịch sử của nước Đức, cũng được hình thành từ hai khu vực: miền Tây và miền Đông nước Đức. Người Việt ở phía Tây chủ yếu là những người đi du học trước 1975 từ chế độ VN cộng hòa và thuyền nhân trong thập kỷ 70 và 80 của thế kỷ trước, số lượng này theo ước đoán khoảng trên dưới 40.000. Ở phía Đông hiện nay cư trú khoảng 85.000 người Việt Nam, có gốc chủ yếu là những người đi hợp tác lao động thời Cộng hòa dân chủ Đức và một bộ phận nhỏ những người đi du học trong thời gian này.

Nhìn chung những người Việt đang sống tại các Bang miền Tây đã có cuộc sống tương đối ổn định. Phần lớn trong số họ làm việc cho các hãng sản xuất hay tại các công sở của Đức. Con đường đến nước Đức trước đây của số người này có thể khó khăn hơn nhưng điều kiện hội nhập ban đầu của họ có nhiều thuận lợi so với những đồng hương đến sau. Lý do có lẽ là chính sách của nhà nước Đức hồi đó có nhiều ưu đãi với Thuyền nhân (2) (Bootflüchtlinge) hơn đối với người nhập cư nói chung về sau này? Vì điều kiện thời gian, trong phạm vi bài nói chuyện hôm nay tôi không đề cập nhiều đến quá trình hội nhập của số người Việt này. Xin được tập trung vào cộng đồng người Việt ở phía Đông với những thăng trầm Hội Nhập và Phát Triển trong 40 năm qua.

Thế hệ thứ nhất

Tính đến năm 1989 có khoảng hơn 100.000 người Việt đã học tập, nghiên cứu, sống hoặc làm việc thường xuyên hay có thời hạn tại CHDC Đức, đặc biệt tập trung tại các vùng như Đông Berlin, Rostock, Erfurt, Jena, Karl-Marx-Stadt (Chemnitz), Leipzig và Dresden. Đa phần trong số họ là những người đi hợp tác tác lao động. Đến năm 1989 con số người Việt sống thường xuyên tại CHDC Đức tăng lên đến xấp xỉ 60.000.

Sau khi nước Đức thống nhất tình trạng thất nghiệp tại các bang miền đông tăng lên rất nhanh, trong đó có nhiều người lao động Việt Nam. Chính phủ liên bang đưa ra đề nghị đối với số người Việt sống tại các bang miền Đông hồi đó, họ sẽ nhận được toàn bộ chi phí để hồi hương, ngoài ra người lao động còn được hưởng thêm một khoản tiền bồi thường là 3.000 DM nếu trở về. Nhưng nhiều người trong số họ đã quyết định ở lại vì nhìn thấy ở đây những cơ hội tốt hơn cho tương lai của con cái họ như hệ thống giáo dục, chăm sóc sức khỏe…

Vào thời điểm sau khi bức tường sụp đổ, sự việc vẫn chưa rõ ràng, liệu những người „hợp tác lao động“ từ thời CHDC Đức nói chung có được phép ở lại nước Đức mới thống nhất hay không. Hợp đồng hợp nhất giữa hai nhà nước CHLB Đức và CHDC Đức đã bỏ sót mất điều khoản quy định chính thức về vấn đề cư trú cho số người này. Nhiều năm sau đó họ đã sống trong tình trạng không rõ ràng về quy định luật pháp, không có sự bảo đảm chắc chắn về quyền cư trú. Sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường lao động cùng với vốn tiếng Đức nghèo nàn của người lao động Việt Nam lúc đó là những rào cản lớn nhất để „hội nhập“. Đây là thời khó khăn nhất của cộng đồng người Việt tại miền Đông nước Đức. (3)

Xếp theo thứ tự ưu tiên trên thị trường tuyển dụng lao động, người Việt đứng cuối cùng, sau người (đông) Đức và công dân các nước EU khác. Con đường mưu sinh gần như duy nhất mở ra cho họ lúc đó là tự kiếm sống, „selbständig“. Những ai muốn ở lại đều phải tự kiếm cho mình một nghề kinh doanh, chủ yếu là bằng một chỗ bán hàng ngoài hè phố với một tờ giấy phép bán hàng rong, hồi đó chưa mấy ai có đủ tiền thuê một cửa tiệm. Tôi nhớ lại, những Straßenstände mọc lên ở khắp nơi, bất luận đó là một xe Imbiss, một quầy bán quần áo, rau quả hay quầy bán hoa tươi…, luôn xuất hiện hình ảnh những người Việt nhỏ bé, chăm chỉ, tận tình với khách hàng ở mọi miền của nước Đức. Không kể nắng hay mưa, bất kể mùa hè nóng nực hay hay cái rét cắt ruột của băng tuyêt họ, làm việc, làm việc và làm việc! Họ bán hàng và đôi khi là bán cả tuổi trẻ và sức khỏe của mình để mưu sinh.

Có một điều không thể không nhắc tới đó là thời gian sống và làm việc tại CHDC Đức. Những người lao động Viêt Nam đã cống hiến những năm tháng tuổi xuân đẹp nhất của họ cho nước Đức và cũng đã nhận lại từ nước Đức bao điều tốt đẹp. Những đức tính tốt trong lao động như sự đúng giờ, tính kỷ luật và ý thức trách nhiệm trong công việc… Sự yêu thương, giúp đỡ của những gia đình người Đức dành cho các bạn Việt Nam mà chúng ta có thể kể ra ở đây vô vàn những thí dụ cảm động… là những vốn quý vô giá góp vào và làm mạnh lên „nội lực“ cho sự hội nhập và phát triển sau này của cộng đồng người Việt Nam.

Người Việt Nam có câu ngạn ngữ „ Có An cư, mới lạc nghiệp“. Trước năm 1993, đại đa số người Việt ở miền Đông  chỉ nhận được Aufenthaltsbewilligung, một dạng của gấy phép cư trú tạm, được gắn với một mục đích cụ thể, do sở ngoại kiều cấp mỗi ba hay sáu tháng 1 lần.(4) Điều này gây tâm lý bấp bênh, lo lắng, không ổn định và dẫn đến những hành động chụp giật trong làm ăn: buôn lậu, trốn thuế, băng đảng trấn lột lẫn nhau…những vụ án Mafia thuốc lá tàn khốc của thời kỳ này thỉnh thoảng vẫn còn được nhắc đến như một nỗi đau trong lịch sử phát triển của cộng đồng. Nhà văn Nguyễn Văn Thọ, một người từng tham gia hợp tác lao động ở CHDC Đức, đã phản ánh một cách trung thực thời kỳ „đen tối“ này của cộng đồng người Việt ở Đức trong cuốn tiểu thuyết mang tên „Quyên“. Nhiều người còn biết đến câu chuyện qua bộ phim cùng tên của Đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình mới được trình chiếu tại Berlin cách đây vài tuần. Nhắc lại một thời với những biến cố để giữ cho nó không bao giờ được xẩy ra trong tương lai, cả với những thế hệ sau này.

Rốt cuộc năm 1993 chính phủ liên bang đã hợp thức hóa quy chế cho những người hợp tác lao động.

Nói đến hội nhập, đặc biệt là hội nhập từ nguyên nhân nhập cư, luôn bao gồm hai mặt quan trọng: những yêu cầu đối với người nhập cư và những đòi hỏi đặt ra với xã hội tiếp nhận họ. Những đấu tranh trong quốc hội, giữa các đảng phái của các chính khách Đức cho quyền lưu trú của người lao động là đề tài sôi động được quan tâm nhất trong cộng đồng người Việt suốt từ sau Wende mãi đến những năm 2005-2006. Tiêu biểu cho các nhà hoạt động xã hội - chính trị Đức đã có công lao lớn trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động Hiệp định trong thời kỳ bước ngoặt ở CHDC Đức và về sau đã nhiệt thành đấu tranh cho quyền lưu trú của họ ở nước Đức thống nhất, ở đây xin được nêu tên bà ALMUTH BERGER, Đặc phái viên Ngoại kiều cuối cùng của CHDC Đức và về sau là Đặc phái viên Ngoại kiều đầu tiên của Bang Brandenburg. Trong tương quan này tôi cũng muốn nhắc lại những hoạt động chính trị đầy ý nghĩa như buổi tham vấn về tình hình người lao động hiệp định Việt Nam do Khối nghị sỹ LIÊN MINH 90 - Đảng Xanh đã tổ chức tại Nghị viện Liên bang Đức vào đầu những năm 90 (lúc đó vẫn còn ở Bonn). Những bước đi cụ thể như vậy dần dần đã tạo ra một sự thay đổi tích cực trong cách nhìn nhận của công luận về hoàn cảnh của người lao động Hiệp định, và rốt cuộc đã giúp  họ dành được quyền lưu trú lâu dài ở CHLB Đức. Tại đây một lần nữa xin bày tỏ lòng cám ơn chân thành của chúng tôi!  

Những sự kiện „mở đường“ của luật pháp nước sở tại đồng thời cũng là những chiếc chìa khóa mở rộng cánh cửa vào thế giới hội nhập và phát triển cho cộng đồng người Việt ở đây.

Thế hệ thứ hai

Thế hệ thứ hai của người Việt tại Đức bao gồm hai lực lượng chủ yếu: con cái người lao động, đến thời điểm thống nhất nước Đức có độ tuổi dưới  14, vẫn còn sống tại Việt Nam được bố mẹ đón sang theo chính sách đoàn tụ gia đình; và các cháu được sinh ra tại nước Đức sau thời điểm nói trên.

Nhóm thứ nhất lúc mới sang cũng gặp một số khó khăn nhất định trong quá trình hội nhập giống bố mẹ của các cháu trước đây đã từng có như: chưa biêt tiếng Đức và chưa quen một số tập quán văn hóa của xã hội Đức. Có lợi thế tuổi trẻ, lại được theo học ngay trong các trường phổ thông với hệ thống giáo dục tiên tiến của Đức, những khó khăn này được khắc phục tương đối nhanh. Trong một thời gian ngắn, có nhiều cháu đã vươn lên, đạt được những thành tích đáng tự hào cho cộng đồng. Nhóm các cháu sịnh ra tại đây sau năm 1990 được hưởng những điều kiện thuận lợi hơn so với nhóm thứ nhất; nhưng không phải lúc nào các thành tích xuất sắc trong học tập và hoạt động ngoại khóa cũng rơi vào nhóm này. Nguyên nhân của vấn đề này cũng đã được nhiều nhà báo, xã hội học… của  Đức phân tích trong một số bài viết thú vị đã được đăng tải trên các báo. Để tiết kiệm thời gian quý báu của quý vị  tại buổi lễ này, tôi chỉ xin trình bày một số kết quả đáng khích lệ nhất của thế hệ người Việt Nam thứ hai cùng những phân tích ngắn gọn. Xin bắt đầu bằng vài số liệu dẫn chứng đã được đăng trên những tờ báo có danh tiếng ở Đức. Tháng 4 năm 2010, Süddeutsche Zeitung trong bài „Nur Bildung führt weg vom Reisfeld“ đã viết: „Những người có xuất xứ Việt Nam được coi là những người nhập cư thành đạt nhất - Bộ trưởng y tế Philipp Rösler chỉ là một ví dụ“… Thành công của người Việt Nam được thể hiện rõ ràng qua các con số: hơn một nửa trong số con cái của họ ở Mecklenburg-Vorpomern đỗ và các trường Gymnasium, ở Thüringen con số đó hàng năm thậm chí còn lên tới 63% - nhiều hơn hẳn so với các em học sinh sở tại. Ngay cả trong những chương trình lớn về học bổng cho học sinh của các gia đình nhập cư có tên gọi „Start-Programm“, số người Việt Nam cũng đứng trên mức trung bình.

„Người Việt Nam là một trong những nhóm hội nhập tốt nhất của các nhóm nhập cư ở nước Đức“, đó là nhận xét của Đặc phái viên hội nhập bang Brandenburg Giáo sư người Potsdam, bà Karin Weiss.

„Die Welt“ viết hôm 06.02.2011: „Những học sinh tốt nhất ở Đức đến từ Việt Nam“ … Trong các trường Gymnasium ở các quận trước đây thuộc miền đông Berlin như Friedrichshain, Lichtenberg hoặc Marzahn có 15 % học sinh con em của các gia đình Việt Nam. Ngay trong môn toán và khoa học tự nhiên nhiều em trong số đó rất giỏi. Trên toàn liên bang có khoảng 59% học sinh Việt Nam học trường Gymnasium“. Không chỉ trong các môn học ở trường phổ thông, các cháu học sinh Việt Nam còn đạt được nhiều thành tích to lớn trong nhiều lĩnh vực như âm nhạc, hội họa …vv  và thậm chí cả thể thao, một lĩnh vực mà do những hạn chế về tố chất thể lực so với các giống người châu Âu, ít ai nghĩ đến.

Hiện tượng này có nguyên nhân sâu xa của nó. Olaf Beuchling, một nhà nghiên cứu về giáo dục, phát biểu theo bài báo đã dẫn: "Các bậc cha mẹ Việt Nam rất ý thức về việc học hành (của con cái) và luôn đặt lên con cái những áp lực về thành tích học tập. Họ dành tất cả cho một sự học tập tốt, bằng mọi giá. Đó là truyền thống trong gia đình Việt Nam“.

Nhìn lại điểm xuất phát đầy gian khổ của thế hệ thứ nhất cùng những nếp nghĩ truyền thống trong gia đình người Việt, chúng ta sẽ phần nào lý giải được vấn đề đã nêu. Và, cũng như đã nói ở trên, thực tế này không áp dụng được một cách  triệt để với các cháu thế hệ thứ hai được sinh ra ở đây. Đó có thể là nỗi băn khoăn của nhiều bậc cha mẹ Việt Nam! Nhưng tôi tin rằng, con đường hội nhập của các cháu sẽ khác, thành công hơn và không chỉ được đánh giá qua  những con số của thành tích. Khó khăn nằm ở chỗ, làm sao giữ được cho các cháu một chút tâm hồn Việt, một chút bản sắc Việt. Một chút thôi nhưng phải là những gì tinh hoa nhất. Phần còn lại con cháu chúng ta sẽ làm tiếp. Tất cả những mong ước ấy chỉ có thể thực hiện thông qua văn hóa, văn hóa hội nhập.

Năm nay là năm kỷ niệm 250 năm ngày sinh của thi hào Nguyễn Du, người sống cùng thời với thi hào Đức Goethe. Có lẽ ít quý vị có mặt ở đây biết rằng ngay từ năm 1964, tức cách đây hơn 50 năm, bản dịch thơ tiếng Đức của  "Truyện Kiều“ - tác phẩm chính của Nguyễn Du và là tập đại thành của nền văn học cổ diển Việt Nam - đã ra mắt dưới tên gọi „DAS MÄDCHEN KIỀU“ („Nàng Kiều“) tại Nhà xuất bản Rütten và Loening ở phía Đông thành phố. Vợ chồng dịch giả Irene và Franz Faber đã bỏ ra hơn 7 năm lao động để hoàn thành tác phẩm dịch này, và trước sau đây vẫn là công trình có ý nghĩa sâu sắc nhất trong giao lưu văn hoá-văn học giữa Việt Nam và Đức. Nhân dịp ngày lễ lớn 250 năm ngày sinh Nguyễn Du và hai năm sau khi cụ Franz Faber qua đời, Hội doanh nghiệp Việt Nam mong muốn sẽ hỗ trợ cho việc thực hiện nguyên vọng lớn của dịch giả lúc sinh thời là sẽ tái bản công trình „NÀNG KIỀU“, cụ thể dưới hình thức một Truyện Kiều song ngữ Đức-Việt. Vào ngày thứ sáu, 10.07. lúc 17:00 h chúng tôi sẽ tổ chức tại Viethaus một buổi giới thiệu và quảng bá về dự án văn hoá quan trọng này, xin mời các quý vị và các ban có mặt ở đây sẽ đến cùng tham dự!           

Hội nhập là con đường dẫn đến thành công

Kính thưa các vị khách quý, thưa toàn thể anh chị em, bà con Viêt Nam thân mến.

Nhìn lại quá khứ để định hướng cho tương lai, đó chính là mục đích sâu xa của những người tổ chức buổi lễ hôm nay. Những gì khó khăn nhất chúng ta đã vượt qua. Hôm nay chúng ta có thể nói với nhau rằng: cộng động người Việt đã đặt được những bước chân đầu tiên vào con đường „Hội nhập“. Nước Đức đã thật sự trở thành quê hương thứ hai của nhiều người Việt chúng ta và không chỉ đối với thế hệ thứ hai. Cộng đồng người Việt tại CHLB Đức muốn bầy tỏ với nhân dân Đức, nhà nước Đức sự biết ơn sâu sắc nhất về tất cả những gì nước Đức và người Đức đã dành cho chúng tôi trong nhiều năm qua. Không có những điều đó sẽ không có một cộng đồng người Việt lớn mạnh như hôm nay. Cộng đồng người Việt luôn coi việc gắn bó với nước Đức là sự sống còn của mình và hòa nhập vào xã hội Đức là nghĩa vụ công dân cao cả.

Hội nhập tốt trên quê hương thứ hai - nước Đức - còn là sự đền ơn, đáp nghĩa đối với tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta. Đất mẹ Việt Nam cũng sẽ rạng danh khi những người con xa nhà ăn ở có đạo lý. Xây dựng một cộng đồng đoàn kết, cùng hội nhập chúng ta sẽ có cơ hội giúp nước tốt hơn.

Để kết thúc câu chuyện về hội nhập và phát triển, tôi muốn nhắc lại một hồi tưởng thú vị. Năm 1990, có một người Việt ở Potsdam vừa thất nghiệp. Anh ta lơ ngơ giữa ngã ba đường để chọn cho mình một lối đi: về hay ở lại. Anh đã chọn con đường ở lại và khởi nghiệp từ một xe bán Imbiss tại một con phố nhỏ đất Cố Đô. 25 năm sau người đàn ông đó mời tất cả chúng ta đến chỗ anh ta, cùng liên hoan với bạn bè Đức và chính quyền sở tại để ôn lại những cố gắng của người Việt mình trên con đường hòa nhập vào xã hội Đức. Người đàn ông đó nói với tôi: anh phải lên đây, nói với mọi người rằng „con đường hội nhập của người Việt trên nước Đức là có thật và nó là con đường dẫn đến sự thành công“. Người đàn ông Việt đó không phải ai khác, mà chính là ông Nguyễn Văn Hiền, chủ nhà của buổi lễ hôm nay, và, nơi chúng ta đang đứng đây là thành quả lao động của ông trong quá trình mày mò hội nhập. Tôi tin là ông đã nói đúng.

Chúc quý vị và các bạn có một buổi lễ thật vui và ý nghĩa

Xin cảm ơn sự chú ý của quí vị

Nguồn: Thoibao

Quy định bình luận
Vietinfo tạo điều kiện cho bạn đọc bày tỏ chính kiến, song không chịu trách nhiệm cho quan điểm bạn đọc nêu trong bình luận của bạn đọc. Quan điểm bạn đọc không nhất thiết đồng nhất với quan điểm của Vietinfo.eu. Khi bình luận tại đây, hãy:
- lịch sự, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau,
- bày tỏ quan điểm tập trung vào chủ đề bài viết,
- không dùng các từ ngữ thô tục, bậy bạ,
- không xâm phạm đến quyền riêng tư cá nhân hay một số cá nhân,
- không tỏ thái độ phân biệt trên bất cứ phương diện nào (dân tộc, màu da, giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp…).
Mọi nội dung không phù hợp với các tôn chỉ trên có thể bị sửa hoặc xóa.
Cách gõ tiếng Việt
Dấu mũ Â, Ê, Ô – gõ 2 lần: AA, EE, OO
Dấu móc Ă, Ơ, Ư – thêm phím W: AW, OW, UW
Dấu huyền – thêm phím F
Dấu sắc – thêm phím S
Dấu hỏi – thêm phím R
Dấu ngã – thêm phím X
Dấu nặng – thêm phím J
Xóa dấu – thêm phím Z

Ví dụ:
Casch gox tieesng Vieejt.
Cách gõ tiếng Việt.

 

Booking.com
Tiêu điểm

Thảo luận

Quảng cáo